Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngữ Văn 9. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngữ Văn 9. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 30 tháng 12, 2010

Khả năng của truyện ngắn trong việc thể hiện con người (Tham Khảo)


ThS. Vũ Thị Tố Nga
Khoa Ngữ văn - Trường Đại học Hải Phòng.

       
Truyện ngắn có nhiều khả năng trong việc thể hiện quan niệm về con người. Do dung lượng nhỏ, nắm bắt những nét bản chất nhất của cuộc sống,... truyện ngắn có khả năng chuyển tải những vấn đề của thời đại, con người, một cách chính xác nhạy bén. Cũng chính điều này đã khiến truyện ngắn trở thành thể loại cho phép nhà văn thử nghiệm và triển khai những khía cạnh mới mẻ, linh hoạt trong quan niệm nghệ thuật về con người.
Những day dứt của kiếp người nhiều khi lại thể hiện trong một anh kéo xe, trong một con điếm muốn tìm một khách làng chơi trong những phút giây cuối cùng của một năm (Ngựa người, người ngựa - Nguyễn Công Hoan); những ám ảnh về cuộc sống tù đọngnhiều khi không phải chỉ thể hiện ở những trí thức, mà nó trở thành nhức nhối trong những kiếp người bé nhỏ (Hai đứa trẻ - Thạch Lam)... Truyện ngắn đề cập đến nhiều loại người trong xã hội, gắn với mỗi loại người ấy là một vấn đề cần trăn trở, cần lưu tâm của cuộc sống nhân sinh. Anh trí thức có những vấn đề của anh trí thức; người nông dân có những vấn đề của người nông dân, kẻ lang thang có những vấn đề của kẻ lang thang... Truyện ngắn thường chớp lấy những khoảnh khắc của kiếp người, lại có thể chú trọng đến nhiều loại người, cho nên, những vấn đề thời sự, nổi cộm nhất của cuộc sống được nó nắm bắt một cách nhanh chóng, nhạy bén. Sự nhanh chóng nhạy bén này không chỉ thể hiện ở việc nắm bắt vấn đề, mà chỉ tính riêng đến thời gian để ra đời một truyện ngắn cũng có thể nói lên điều đó. Nhà tiểu thuyết phát hiện ra một vấn đề, nhưng để viết được một tiểu thuyết có dung lượng vừa phải, ít nhất nghệ sĩ phải mất một năm. Những vấn đề nóng hổi của thời đại, những cách nhìn nhận mới về con người loé lên trong đầu nhà văn, có thể nói, thời gian để quan niệm ấy hoá thân thành thế giới nghệ thuật sẽ không cần nhiều như tiểu thuyết. Đây là một đặc điểm gắn liền với báo chí của thể loại cỡ nhỏ này. Cùng thể hiện quan niệm con người khó mà hoà hợp được khi bước từ thời chiến vào thời bình, Bảo Ninh đã sử dụng đến dung lượng hàng trăm trang trong tiểu thuyết Thân phận tình yêu, còn Nguyễn Huy Thiệp chỉ cần dùng một truyện ngắn với dung lượng vài chục trang mà cũng không kém phần ấn tượng (Tướng về hưu)...
Truyện ngắn không chỉ nắm bắt một cách nhanh nhạy, mà còn thể hiện một cách ấn tượng và linh hoạt những khía cạnh trong quan niệm nghệ thuật về con người. Không phải là trong tiểu thuyết không xuất hiện những kiểu người như trong truyện ngắn, chỉ có điều những nhân vật đó xuất hiện với tư cách nhân vật phụ nên thường không gây được sự chú ý của người đọc, nhà văn không tập trung làm sáng tỏ những quan niệm mà loại nhân vật này có khả năng thể hiện. Những nhân vật phụ trong tiểu thuyết trở nên ấn tượng hơn, những quan niệm về con người được thể hiện trong những nhân vật đó trở nên sắc nét hơn khi đi vào truyện ngắn, bởi vì trong truyện ngắn, những nhân vật đó trở thành nhân vật chính, mọi chi tiết, sự kiện, ngôn từ chỉ tập trung làm sáng tỏ nhân vật đó, con người đó.
Truyện ngắn không chỉ tạo điều kiện cho nhà văn thể nghiệm và triển khai những khía cạnh mới mẻ, linh hoạt trong quan niệm nghệ thuật về con người mà còn tạo điều kiện khai thác khả năng đồng sáng tạo của độc giả. Đặt con người vào trong "tổng hoà các mối quan hệ xã hội", bên cạnh ý thức, nhân vật còn hiện diện cả phần nội tâm, tiềm thức và vô thức, các tác giả truyện ngắn đã khêu gợi ở người đọc cách lý giải, nhìn nhận con người. Truyện ngắn thường nêu ra các vấn đề của nhân sinh để người đọc tự suy ngẫm, lí giải theo quan niệm của riêng mình. Phương thức tồn tại đầy đủ nhất của tác phẩm văn học chính là tồn tại trong chủ quan tác giả, trong văn bản và trong sự tiếp nhận của độc giả. Khai thác sự đồng sáng tạo từ phía người tiếp nhận không chỉ tạo nên tính dân chủ trong tiếp nhận mà còn tăng sức nặng của những vấn đề được đặt ra. Những vấn đề nhà văn chỉ nêu lên sẽ lớn dần trong sự tiếp nhận. Người đọc không đơn giản là người tiếp nhận một cách thụ động mà còn là người tích cực chủ động tham gia cùng nhà văn vào việc nhìn nhận về con người, bổ sung những quan niệm của mình. Chính vì thế hình tượng nghệ thuật nói chung và quan niệm nghệ thuật về con người nói riêng trong truyện ngắn trở nên phong phú và sâu sắc hơn. Vấn đề đặt ra đối với sáng tác văn học nói chung không đơn giản là chuyện nhà văn viết cái gì, mà là chuyện nhà văn đã gợi lên được điều gì trong lòng độc giả sau khi đọc xong truyện đó. Truyện ngắn đã làm được điều này nhờ sức gợi của mình. Để tạo nên sức gợi, bên cạnh việc lựa chọn cách trần thuật, tác giả truyện ngắn cũng rất chú trọng đến lựa chọn những sự kiện, chi tiết thể hiện các khả năng có thể có của cuộc đời con người. Những số phận, những con người, những sự kiện phức tạp tự nó đã cho phép nhiều cách hiểu khác nhau. Truyện ngắn thường sử dụng cách trần thuật đầy ẩn ý, thường sử dụng các biểu tượng đa nghĩa. Chính điều này đã tạo nên tính hàm súc, cô đọng, chất thơ của thể loại, đồng thời phát huy khả năng đồng sáng tạo của độc giả trong việc đưa ra những quan niệm về con người, về cuộc sống nhân sinh. Người đọc sẽ luôn trăn trở về cách nhìn nhận con người cùng Nam Cao khi đọc Lão Hạc, Chí Phèo, Tư cách mõ...; sẽ luôn bị ám ảnh, và cùng Nguyễn Huy Thiệp suy nghĩ về con người khi đọc những truyện ngắn của ông như: Sang sông, Tướng về hưu, Không có vua...
Nếu đem so sánh một tác phẩm với một tác phẩm thì rõ ràng, khả năng phản ánh hiện thực đời sống, khả năng thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của truyện ngắn không thể bằng tiểu thuyết. Nhưng xét trên phương diện thể loại (bao gồm nhiều tác phẩm) thì truyện ngắn không hề thua kém tiểu thuyết trong lĩnh vực này. Như ta biết, mỗi truyện ngắn thường chỉ thể hiện một quan niệm nghệ thuật về con người; chẳng hạn, truyện Sang sông của Nguyễn Huy Thiệp yêu cầu chúng ta phải có cái nhìn khác về con người hiện nay, nhiều khi phải "đập tan bình cổ" để tiến đến một tương lai tươi sáng hơn, truyện Bức tranh của Nguyễn Minh Châu lại cho thấy bên trong con người luôn có cả rắn rết lẫn rồng phượng; truyện Đường Tăng của Hoà Vang quan niệm rằng, được làm người là ước mơ cao nhất của muôn loài, hạnh phúc của con người nơi trần thế mới là hạnh phúc đích thực; truyện Biến dạng(Hoá thân) của F. Kafka lại cho thấy sự bất lực của con người trong cuộc sống hiện tại... Như vậy, nhiều tác phẩm gộp lại, ta lại thấy truyện ngắn có khả năng thể hiện một cách khá toàn diện những cách nhìn nhận về con người. Cho nên, xét trên bình diện thể loại, khả năng thể hiện phong phú, đa dạng quan niệm nghệ thuật về con người của truyện ngắn là một thực tế.
Cũng cần phải khẳng định rằng, truyện ngắn tạo thuận lợi cho việc đưa ra những quan niệm nghệ thuật có tầm khái quát cao. Sở dĩ như vậy vì truyện ngắn thường "chớp lấy cái thần thái" của nhân vật. ẩn sau mỗi sự kiện, chi tiết, nhân vật của truyện ngắn, bao giờ cũng là những ý tưởng hết sức sâu sắc. Người đọc có cảm giác như người viết truyện ngắn có sẵn trong đầu những quan niệm (tất nhiên, những quan niệm này cũng được rút ra từ sự quan sát thực tế), rồi tìm những cảnh đời phù hợp với quan niệm ấy. Đọc truyện ngắn, người đọc phải đi ngược lại tiến trình sáng tạo để tìm đến những quan niệm sâu sắc được nhà văn gửi gắm kín đáo. Nhiều triết lí được đưa ra trong truyện ngắn (nhất là truyện rất ngắn), ta có cảm giác như nó gần gũi với những bài học được rút ra từ truyện ngụ ngôn. Chẳng hạn truyện Bé yêu của L. Corxinxki (Nga), truyện Lời nói tình yêu của B. Laxkin, Sự biến hoá kì diệu của R. Kazkova... Nhà văn càng ít miêu tả, thuyết minh cụ thể, chi tiết, thì sức khái quát càng cao. ở một mức độ nào đó, truyện ngắn gần với thơ trữ tình. Đó chính là tính cô đúc, hàm súc, nói ít gợi nhiều. Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ và truyện ngắn đều đạt tính khái quát xã hội cao nhưng truyện ngắn và thơ trữ tình vẫn có những nét riêng trong những khái quát về con người. Có thể nói truyện ngắn là thể loại tạo điều kiện để người sáng tác không ngừng vươn tới giới hạn tối đa trong cách hiểu con người.
Truyện ngắn có nhiều khả năng độc đáo nhưng nó cũng có không ít những giới hạn trong việc thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người.
Trước hết, do phải đảm bảo dung lượng "ngắn", thể loại này chỉ có thể "nêu" lên những quan niệm nghệ thuật về con người. Tức là truyện ngắn, không cho phép lí giải, phân tích, chứng minh, triển khai một cách dài hơi những quan niệm được nhà văn đưa ra. Với một quan niệm nghệ thuật về con người, nhà văn chỉ được phép thể hiện nó trong số lượng chi tiết, nhân vật, sự kiện hết sức hạn chế. Điều này càng bộc lộ rõ trong truyện rất ngắn - một biến thể của truyện ngắn. Truyện Làng gần nhất của F. Kafka thể hiện quan niệm về sự ngắn ngủi của cuộc đời, sự bất lực của con người bằng số lượng chữ cực kì hạn chế (chưa đầy 100 chữ khi được dịch ra tiếng Việt), bằng duy nhất một sự kiện, trùng khít với số chữ: "thật khó hiểu nổi vì sao một chàng trai lại có thể quyết định đi ngựa tới làng gần nhất mà không e ngại - cứ cho là không gặp tai nạn gì đi nữa - rằng một kiếp sống bình thường và trôi chảy, cũng khó mà đủ cho cuộc du lãm ấy". ở một phương diện nào đó, đặc điểm này tạo nên tính khái quát cao cho những quan niệm nghệ thuật về con người được nêu lên trong truyện ngắn, phát huy được khả năng đồng sáng tạo ở độc giả, nhưng mặt khác nó cũng gây trở ngại không nhỏ đối với sự tiếp nhận - nếu người đọc không tinh, không có nhiều kinh nghiệm nghệ thuật, kinh nghiệm cuộc sống, không có sự liên tưởng phong phú... thì hiệu quả của truyện ngắn sẽ không được phát huy đến mức tối đa. Đừng nên nghĩ rằng truyện có dung lượng nhỏ là sẽ dễ đọc hơn tiểu thuyết. Chỉ riêng việc tiếp cận thế giới nghệ thuật, nếu nhà văn sử dụng ít chi tiết, ít sự kiện, viết theo lối nói ít gợi nhiều đã gây khó khăn rất lớn cho người đọc. Tiếp cận những quan niệm của nhà văn về con người - nội dung nghiêng về triết lí, tư tưởng sâu xa - trong thể loại này càng khó hơn rất nhiều. Có nhiều người đã thừa nhận truyện ngắn đích thực không chỉ khó viết mà còn khó đọc. Như vậy, truyện ngắn đã gây không ít khó khăn cho nhà văn trong việc thể hiện cụ thể, chi tiết quan niệm nghệ thuật về con người; đồng thời cũng gây khó khăn cho độc giả trong việc tiếp nhận vấn đề đó. Nếu nhà văn non tay, sẽ dễ làm cho ý tưởng của mình bị lộ liễu, thiếu sức hấp dẫn.
Cũng chính vì chỉ cho phép nhà văn "nêu" quan niệm, nên truyện ngắn hạn chế trong việc thuyết phục toàn diện độc giả. Trong tiểu thuyết, để làm sáng tỏ một quan niệm, nhà văn được phép sử dụng một khối lượng chi tiết, nhân vật, sự kiện khổng lồ với nhiều mặt, nhiều khía cạnh khác nhau. Khó ai có thể phủ nhận được quan niệm: trong xã hội tư sản, con người trở thành nô lệ cho đồng tiền, tính cách con người bị thay đổi theo sự thay đổi của môi trường sống khi đọc những tiểu thuyết của O. Bazăc. Người đọc cũng bị chinh phục bởi quan niệm cuộc đời, con người trên thế gian này thật là phi lí khi đọc Người xa lạ của A. Camus... Sở dĩ như vậy, vì trong tác phẩm, có rất nhiều chi tiết cùng tập trung thể hiện vấn đề đó - một sự việc, một hành động, một số phận chưa đủ sức thuyết phục, thì đã có những sự việc khác, hành động khác, số phận khác hỗ trợ. Trong khi đó, phần lớn truyện ngắn chỉ có một sự kiện chính với số chi tiết, số nhân vật hạn chế. Truyện ngắn mạnh về sức gợi nhưng lại hạn chế trong việc thuyết phục toàn diện.
Trong mỗi giai đoạn lịch sử, những khả năng của truyện ngắn được phát huy và những hạn chế được khắc phục ở mức độ khác nhau, gắn với những quan niệm nghệ thuật khác nhau về con người. Sau 1975, trong giai đoạn mới, truyện ngắn đã phát huy được khả năng tiếp cận và phản ánh hiện thực con người một cách nhanh nhạy và sắc bén. Với đặc trưng cơ bản của thể loại, truyện ngắn đã tạo cơ sở cho sự biểu hiện những thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người. Có thể nói chưa bao giờ trong văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng, con người lại được khai thác ở nhiều chiều kích và bình diện đến vậy. Tiếp cận với thế giới nhân vật trong các sáng tác, người đọc như được tiếp xúc với những con người có thực ở ngoài đời, cũng sinh động, phong phú và không kém phần phức tạp. Với ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, truyện ngắn góp phần làm cân bằng hài hoà trở lại cách nhìn nhận con người về mặt cộng đồng tập thể của giai đoạn văn học trước./.


Tạp chí Nghiên cứu Văn học sô 5/2006

So sánh chuyện tình giữa Người và Hồn ma trong "Tiễn đăng tân thoại" và "Truyền kỳ mạn lục"


PGS.TS Đinh Thị Khang
Khoa Ngữ văn, Đại học Sư Phạm Hà Nội

        
Nhiều năm trở lại đây, có nhiều công trình nghiên cứu Truyền kỳ mạn lục (TKML) trong so sánh với Tiễn đăng tân thoại (TĐTT). Mối quan hệ giữa hai tác phẩm được xác định là Nguyễn Dữ chịu ảnh hưởng nhiều từ sáng tác của Cù Hựu (do tiếp thu tình tiết, mô típ và bút pháp thể loại). Nhưng tập truyện truyền kỳ này vẫn thể hiện sức sáng tạo nghệ thuật của nhà văn tài năng họ Nguyễn. Với đề tài của mình, qua khảo sát những tác phẩm cụ thể, chúng tôi tìm hiểu thêm về những phương diện trên, mong muốn đi tới những nhận xét mới mẻ khác.
TKML của Nguyễn Dữ gồm 20 truyện ngắn. Tính chất và sự biến huyễn của thế giới lạ lùng tựa như không có thật ấy được thể hiện phong phú, đa dạng, sinh động qua từng thiên truyện. Nhóm tác phẩm viết về chuyện tình giữa người và hồn ma có một cốt truyện vừa lãng mạn vừa ly kỳ, quái đản.
I. Đặt trong so sánh với TĐTT, xét số lượng tác phẩm là đối tượng khảo sát, chúng tôi có kết quả sau đây: TĐTT có 5/20 truyện, chiếm tỉ lệ 25%; TKML có 3/20 truyện, chiếm tỉ lệ 15%. Tuy rằng số lượng có ít hơn so với TĐTT nhưng vẫn có thể thấy, đây là đề tài được Nguyễn Dữ quan tâm thể hiện(1).
Nội dung mỗi truyện viết về cuộc gặp gỡ, yêu đương giữa hai nhân vật chính. Trong cả 8 truyện (5 của TĐTT, 3 của TKML), các nhân vật nam đều là người, các nhân vật nữ đều là hồn ma hiện thành người. Viết về chuyện người gặp gỡ, yêu đương với ma; ăn ở, vui thú như vợ chồng với ma giữa cõi người, các tác giả đã đưa chuyện ảo, cảnh ảo xâm nhập thế giới người; đưa thế giới “phi hiện thực” hiện hữu trong thế giới hiện thực. Như vậy tính chất kỳ ảo của từng tác phẩm nằm ngay trong nội dung cốt truyện và hình thức “phi nhân” của một trong hai nhân vật chính.  
II. Khảo sát nội dung 5 truyện của TĐTT, chúng tôi nhận thấy có thể phân chia thành hai nhóm sau đây:
-  Nhóm 1, gồm bốn truyện: Kim phượng thoa ký, Đằng Mục tuý du Tụ Cảnh viên ký, Ái Khanh truyện, Lục y nhân truyện. Nội dung các truyện có thể khái quát như sau: Một chàng trai gặp mỹ nhân. Anh ta biết đấy là người đã chết nhưng vẫn cùng hồn ma yêu đương ân ái. Cả hai thoả mãn ước nguyện hạnh phúc. Đến kỳ hạn, âm dương ly biệt, (chỉ trừ Kim phượng thoa ký, chàng Hưng Ca lấy em gái Hưng Nương theo ước nguyện của nàng) các chàng trai không lấy vợ nữa để giữ tình chung thuỷ.
-  Nhóm 2, chỉ có Mẫu đơn đăng ký, viết chuyện chàng trai gặp mỹ nhân, mời nàng về nhà ngủ. Từ đó, nàng tối đến sáng đi. Có người biết chuyện cảnh báo, chàng đi tìm tung tích người tình, phát hiện mình dan díu với hồn người chết. Chàng sợ hãi chạy trốn nhưng vẫn bị ma quyến rũ rồi bị chết theo, cũng biến thành ma lang thang. Các hồn ma quấy phá nhân gian đã bị đạo sĩ yểm bùa, tiễu trừ. Phải chăng đây không phải là cảm hứng chính của Cù Hựu?
Cả ba truyện ở TKML (Tây viên kỳ ngộ ký, Mộc miên thụ truyện, Xương Giang yêu quái lục) đều có nội dung thuộc nhóm 2. Các truyện đều kết thúc bằng sự trừng phạt. Đặt trong so sánh với nhiều chủ đề khác, có thể  thấy rõ đây là chủ đề Nguyễn Dữ quan tâm với thái độ phê phán.
Từ sự lựa chọn type truyện dẫn đến lựa chọn hệ thống nhân vật của hai tác giả có sự khác nhau. Chúng tôi có bảng thống kê so sánh như sau.
Tác giả
Tác phẩm
Nhân vật
Nam
Nữ
CÙ HỰU
(1347 - 1433)
Kim phượng thoa ký
Người
có đính ước
Hồn ma
(vợ chưa cưới)
Đằng Mục tuý du
Tụ Cảnh viên ký
Nho sinh
Hồn ma
(duyên xưa)
Mẫu đơn đăng ký
Trai goá vợ
Hồn ma
(chết không có người nhận)
Ái Khanh truyện
Người
giàu có
Hồn ma (vợ)
Lục y nhân truyện
Nho sinh
Hồn ma
(người yêu)
NGUYỄN DỮ
( Thế kỷ XVI)
Tây viên kỳ ngộ ký
Nho sinh
Hồn cây, ma hoa
Mộc miên thụ truyện
Thương nhân
Hồn ma
lang thang
Xương Giang yêu quái lục
Quan lại
Hồn ma
lang thang
Như vậy, ở TĐTT chỉ riêng Kiều sinh (Mẫu đơn đăng ký), là trai goá vợ gặp hồn ma Lệ Khanh là người chết vô thừa nhận. Trong bốn truyện còn lại, các nhân vật nam dù là Nho sinh (Đằng Mục, Triệu nguyên) hay người giàu có (Hưng Ca, Triệu sinh) đều ít nhiều có ràng buộc tiền định với các hồn ma trong quan hệ hôn nhân (là chồng, chồng chưa cưới, ý trung nhân). Người và ma gặp lại nhau là để tiếp tục hoặc chính thức chung hưởng hạnh phúc lứa đôi cho thoả ước nguyện.
Nhân vật trong ba truyện của TKML lại có nét khác. Tất cả các hồn ma đều được xếp loại ma quái. Đào nương, Nhu nương là yêu hoa, ma cây thành tinh; Nhị Khanh, Thị Nghi là hồn người chết lang thang, đều không có ràng buộc với nam nhân trong truyện. Ba chàng trai thuộc ba hạng người cụ thể trong xã hội: Nho sinh, thương nhân, quan lại, là những đối tượng được quan tâm phản ánh trong nhiều truyện của TKML. Cả ba đều là kẻ ham nữ sắc bị yêu ma quyến rũ đắm chìm trong nhục dục.
Bước đầu, có thể nhận thấy sự lựa chọn nhân vật, xây dựng những mối quan hệ giữa các nhân vật là điểm hội tụ nội dung tác phẩm, là phương tiện nghệ thuật thể hiện quan niệm về con người, về xã hội của mỗi tác gi. Đây cũng là chỗ có nhiều điểm khác nhau trong cảm hứng nghệ thuật giữa Cù Hựu và Nguyễn Dữ(2)
III. Trở lại với những truyện thuộc nhóm 1 trong TĐTTBan đầu các chàng trai đều bị sắc đẹp của các cô gái quyến rũ. Nhưng rồi, dù nhanh hay chậm họ đều biết mỹ nhân là hồn ma nhưng không ai kinh sợ, mà vẫn tự nguyện gắn bó. Thực ra, trong cuộc đời không có ma hay có ma còn là chuyện nghi hoặc nhưng người trần gian ai cũng sợ ma. Người biết mình đang quan hệ với ma mà vẫn không từ bỏ là chuyện không có thật, chuyện phi lý, chuyện chỉ có trong tưởng tượng. Nhưng trong TĐTT, chuyện về hai nhân vật, một người, một hồn ma là cả câu chuyện yêu đương, chuyện vợ chồng. Cả hai đến với nhau bằng tình yêu thực sự, gắn với sự giao cảm của hai tâm hồn. Lúc đầu họ chỉ gặp nhau vào ban đêm. Một thời gian, tình yêu tuổi trẻ, quan hệ ân ái đã truyền sức sống, đem dương khí cho người đã chết. Hồn ma có cuộc sống trên thế gian, sớm tối gắn bó chung hưởng hạnh phúc với người, cũng “vui thú như khi còn sống”. Ở đây, ranh giới thực ảo trở nên mờ nhoè. Sự hiện hình của hồn ma là để tiếp tục tình duyên, kiếp sống dang dở. Hồn ma Hưng Nương vì mối trần duyên chưa dứt, nhập vào thân xác em gái là Khánh Nương, trở lại sống với chồng chưa cưới một năm. Hồn ma Phương Hoa, hồn ma cô gái áo xanh hiện thành người sống với người yêu ba năm… Cho dù thời gian ở nơi dương thế không giống nhau, cũng không quá nhiều ngày tháng, nhưng đó là thời gian của một cuộc hôn nhân, thời gian của số mệnh con người. Khi duyên số hết, tình vợ chồng hết, họ lại phải ly biệt. Nhưng nhân vật người – chàng trai trong truyện, đã thật sự thoả mãn với hạnh phúc, đã quên mọi khát vọng, mọi vấn đề khác trong cuộc đời. Vì vậy, sau phút chia ly, các chàng trai đều tự nguyện sống chung thuỷ, ước hẹn tái ngộ. Triệu sinh (Ái Khanh truyện) tìm đến nhà người họ Tống xin được coi như chỗ họ hàng để được gặp mặt, thăm hỏi người vợ đã đầu thai kiếp khác. Đằng Mục (Đằng Mục tuý du Tụ Cảnh viên ký) “suốt đời không lấy ai, vào núi Nhạn Đãng hái thuốc rồi không về nữa”. Triệu Nguyên (Lục y nhân truyện) không lấy vợ nữa mà tới chùa Linh Ẩn xin xuất gia làm sư đến trọn đời.
Như thế, các nhân vật nam trong mỗi tác phẩm ở TĐTT, trước khi đến với cuộc kỳ ngộ là người có nỗi đau khổ hoặc dở dang tình yêu, hạnh phúc nên khát vọng ái ân còn chưa thoả. Gặp lại người có duyên tiền định với mình, tất cả đều thoả nguyện. Tình yêu của họ không phụ thuộc tiền bạc, địa vị xã hội. Hạnh phúc của họ vượt trên bất hạnh của số phận, của cái chết; vượt qua tai hoạ bởi thế lực thống trị bạo tàn. Các truyện viết về các mối tình người và hồn ma đã đưa người cõi âm xâm nhập thế giới thực tại, đã hiện thực hoá thế giới kỳ ảo. Chính vì thế, lại khiến cho cái hiện thực trở thành chuyện không thể có. Tình yêu và hạnh phúc ân ái giữa người và hồn ma vừa là chuyện tưởng tượng nhằm thoả mãn khát vọng hạnh phúc (dù thật mong manh!), hoặc giải toả nỗi uất ức của cuộc đời bất đắc chí nhưng lại vừa là sự phủ định chính giải pháp này.
Trong mỗi câu chuyện về “sự hoà hợp bí ẩn” hoang đường ấy, dường như con người đã đạt đến sự tự do tâm linh trong việc đi tìm hạnh phúc. Nhưng ngay cả lối thoát này cũng dẫn đến ngõ cụt, bởi không có hạnh phúc trọn vẹn, mãi mãi. Đó chỉ là mộng tưởng - dù tác phẩm không viết về giấc mơ. Khi hồn ma không thể tiếp tục ở chốn dương gian, người đọc bừng tỉnh, cắt đứt dòng tưởng tượng gắn với quan niệm “văn hoá thần bí” của người Trung Hoa. Nhưng dù muốn hay không, các chàng trai trong truyện đã không thể trở về với đời sống thực tại của mình mà lại gửi tình sơn thuỷ, chùa chiền... Kết thúc câu chuyện là kết quả của sự đan xen nhiều giải pháp, nhiều tư tưởng và tôn giáo nhằm bù đắp sức mạnh tinh thần trong việc phủ định cuộc sống thực tại.
Chàng trai
Mỹ nhân
Sắc đẹp quyến rũ
Sợ hãi chạy trốn
Hậu
quả xấu
Đam mê nhục dục
Biết là ma
Ba truyện trong TKML cũng viết về tình yêu của các chàng trai với các hồn ma, cũng là chuyện tưởng tượng nhưng tình tiết diễn ra hợp với logic tâm lý con người. Tình yêu nam nữ là chuyện bình thường của người đời. Nhưng tình yêu của nam nhân với hồn ma là chuyện không bình thường, chuyện quái đản. Không biết là ma bởi bị mê hoặc; còn đã biết thì không thể không sợ "sởn gai dựng tóc", không trốn chạy và đã bị ma làm thì khó tránh được tai hoạ. Cả ba truyện của Nguyễn Dữ có thể khái quát theo mô hình sau:
Đó cũng là mô hình của truyện thuộc nhóm 2 trong TĐTT. Nhưng ở những truyện của Nguyễn Dữ, các chàng trai đều là nhưng người tuổi trẻ, đang ở trong cơ hội thành đạt. Cuộc đời mỗi người chưa rơi vào sự mâu thuẫn giữa hiện thực và ước nguyện, cũng không gặp những bế tắc cần tìm phương cách giải toả. Hà Nhân (Tây viên kỳ ngộ ký) là học trò lên kinh sư tìm thầy học để chuẩn bị ứng thí. Trình Trung Ngộ (Mộc miên thụ truyện) là “một chàng trai đẹp, nhà rất giàu, thuê thuyền xuống vùng Nam buôn bán”. Viên quan họ Hoàng (Xương Giang yêu quái lục) người Bắc Giang, xuống kinh đô nhận chức. Gặp mỹ nhân, sự đam mê nữ sắc biến thành sức lôi cuốn mạnh mẽ, khó cưỡng lại.
Hà Nhân bèn rủ hai cô gái về nhà trọ; Trình Trung Ngộ đưa cô gái xuống thuyền của mình; viên quan họ Hoàng đưa cô gái đi theo… Ở đây, đến với tình yêu trai gái, nhân vật nam không phải phấn đấu trên con đường đi tìm hạnh phúc; cũng không tự giác nhận thấy mình đã tìm được giá trị đích thực, nguyện đem đánh đổi tất cả để giữ lấy nó. Với họ, chỉ đơn giản là chạy theo sự cám dỗ, đắm đuối trong hành lạc mà quên đi, đánh mất đi mục đích của mình, thậm chí đánh mất cả mạng sống.
Cuộc kỳ ngộ giữa các chàng trai và hồn ma trong TKML phần lớn chỉ diễn ra vào ban đêm trong thời gian ngắn ngủi. Hàng đêm, Hà Nhân dan díu với hai hồn ma (Đào nương, Nhu nương) trong gần một năm. Đêm đêm Trình Trung Ngộ qua lại với hồn ma Nhị Khanh hơn một tháng. Riêng Xương Giang yêu quái lục viết: một đêm, Hoàng thấy người con gái ngồi bãi cát phía đông nam khóc ai oán, kể về cảnh ngộ. Thương cô gái bơ vơ chịu nhiều đau khổ, anh ta giúp nàng thu nhặt hài cốt cha mẹ đưa về quê nàng. Tuy chưa ân ái để truyền sức sống cho người đã chết, nhưng vì Hoàng đã không quản công sức, tiền của làm ơn nhục cốt sinh tử, khiến cho “xương khô sinh thịt, người chết sống lại”. Thị Nghi thành vợ Hoàng, cuộc sống vợ chồng gắn bó. Như vậy, ở truyện này có trùng lặp một chi tiết của truyện nhóm 1 trong TĐTT. Nếu như các đôi "chồng người vợ ma" trong TĐTT, người chồng thoả nguyện với hạnh phúc và không bị nhiễm khí yêu ma thì truyện của Nguyễn Dữ viết, Hoàng mới sống chung được một tháng, mắc bệnh điên cuồng hoảng hốt. Đạo sĩ yểm bùa, chữa được bệnh cho Hoàng, Thị Nghi thành ra đống xương trắng. Sau đó hơn một tuần, anh ta bị bắt xuống điện Diêm vương tra xét. Án phê rằng “bỏ nết cương thường, theo đường tà dục, giảm thọ một kỷ”. Hoàng đã bị trừng phạt.
Nhiều người nói về Mộc miên thụ truyện trong TKML mô phỏng theo Mẫu đơn đăng ký trong TĐTT. So về cốt truyện thì dường như truyện của Nguyễn Dữ “là sự tái hiện nguyên bản” (Trần Ích Nguyên) truyện của Cù Hựu. Nhưng phân tích cụ thể sẽ thấy thay đổi thể hiện sự tinh tế của nhà văn họ Nguyễn. Xin được trình bày bảng đối chiếu sau đây:
Đối tượng so sánh
Mẫu đơn đăng ký
Mộc miên thụ truyện
Nhân vật
Trai goá vợ
Thương nhân
Vật dụng
Đèn lồng hình 2 bông mẫu đơn
Một cây hồ cầm
Nơi giao hoan
Nhà Kiều Sinh
Thuyền củaTrình Trung Ngộ
Nơi có bài vị
Chùa mé Tây nguyệt hồ
Túp nhà gianh nhỏ ngoài đồng
Cách phát hiện
Ông già nhìn thấy bộ xương ngồi với Kiều sinh, cảnh báo. Kiều sinh đến chùa thấy quan tài
Bạn buôn nhắc nhở cẩn thận, Trình được dẫn đến túp nhà gianh thấy quan tài
Lý do tiếp tục gặp gỡ
Say rượu rẽ nhầm vào chùa giữa hồ
Hồn ma gọi, đi theo
Kiểu chết
Quan tài tự mở nắp, hồn ma kéo vào, Kiều Sinh chết úp vào xác cô gái, nắp liền đậy lại ngay
Trình ôm quan tài mà chết
Nơi trú ngụ
Hiện hình trong làng
Chùa có cây gạo bên sông
Trừng phạt
Bị đánh máu túa dầm dề, giải tới ngục âm cung
Trên không có tiếng roi vọt, lính đầu trâu mặt ngựa gông trói dẫn đi
Như vậy, trong Mộc miên thụ truyện chỉ trừ chi tiết Nhị Khanh chết đã nửa năm mà quan tài vẫn quàn ngoài đồng ngay bên cạnh làng là chuyện không từng có ở ta. Còn các chi tiết khác so với Mẫu đơn đăng ký đều đã đổi khác để phù hợp với hiện thực đời sống, quan niệm, tâm lý người Việt. Có thể nói, trong TKML Nguyễn Dữ  thể đã tiếp thu truyền thống truyện truyền kỳ Trung Hoa từ Đường, Tống, Nguyên, Minh… Nhưng sáng tác dân gian, văn học nhiều thế kỷ của dân tộc cũng là suối nguồn cung cấp cho Nguyễn Dữ rất phong phú những cốt truyện, môtip, chi tiết ly kỳ (lấy vợ kỳ dị, hồn ma hiện hình, người bị ma làm, loài vật thành tinh, thần cây đa ma cây gạo. sự trừng phạt của Diêm vương...).
IV. Trong Mẫu đơn đăng ký chưa kể đến ba trang miêu tả việc đạo nhân trừ ma tà thì hệ thống chi tiết trong truyện cho thấy Cù Hựu đã dụng công tạo nên sự ly kỳ, rùng rợn gây cảm giác ghê sợ hãi hùng cho người đọc. Thái độ tác giả TĐTT phê phán, trừng phạt thói tham nữ sắc của gã đàn ông mới goá vợ, cũng là cảm hứng của nhà Nho, nhà đạo đức Nguyễn Dữ đã thể hiện trong Mộc miên thụ truyện và Xương Giang yêu quái lục. Thái độ phê phán, răn đe của tác giả họ Nguyễn không chỉ được thể hiện qua hình tượng nghệ thuật, qua bài học mà độc giả tự ngẫm thấy trước kết cục số phận của nhân vật, sau mỗi truyện của TKML đều có lời bình, ví dụ:
"Xem thấy yêu nữ mê người, sẽ biết răn sợ trước sắc đẹp" (Xương Giang yêu quái lục). Đây là lời phát ngôn trực tiếp, mang tính chất thuyết lý định hướng giáo dục, cảnh giới con người trước bờ vực của sự sa đoạ.
Tuy nhiên, trong sáng tác của nhà văn họ Nguyễn không phải chỉ có phê phán mà còn có sự đồng cảm, chia sẻ. Thái độ đó thể hiện tập trung trong Tây viên kỳ ngộ ký. Nguyễn Dữ đã dành 11/16 trang viết miêu tả những cuộc gặp gỡ hoan lạc giữa các nhân vật bằng những lời văn dạt dào cảm xúc yêu đương. Từ sự e lệ, thẹn thò của Nhu nương, Hồng nương trong buổi đầu gặp gỡ đã bị Hà Nhân lả lơi cợt ghẹo, đến những lời hoa ý gấm tả chuyện chốn buồng xuân khi cả ba trải cuộc mây mưa thoả nguyện. Yêu đương, hờn dỗi, ghen tị… là những cảm xúc thường có trong một cuộc tình tay ba cũng được viết rất hấp dẫn, ý nhị. Khi Hà Nhân phải về quê, nâng chén tiễn biệt, hai nàng đã viết bài ca tha thiết mang nỗi đau buồn, nhớ nhung không dứt, khiến chàng rưng rưng đôi hàng nước mắt. Hoãn việc hôn nhân do cha mẹ định sẵn, chàng Nho sinh họ Hà lại lên đường tới kinh, gặp lại giai nhân. Tình son phấn nồng nàn khiến chí bút nghiên chán nản. Mọi trạng thái tâm tư yêu đương của lứa đôi tuổi trẻ đã được Nguyễn Dữ viết một cách say sưa bằng những lời đẹp đẽ. Không thể không nói rằng: nhà văn họ Nguyễn đã thể hiện trong sáng tác của mình một sự đồng cảm, ngợi ca tình yêu – hạnh phúc trần thế, tự nhiên của con người, của tuổi trẻ vượt qua khỏi sự ràng buộc của quan niệm, tập tục, đạo đức, lễ nghi phong kiến…, phản ánh một góc nhìn mang tư tưởng nhân văn.
Tiết đông lạnh, Đào nương, Nhu nương khóc chia tay rồi không đến nữa. Sinh mới biết lâu nay mình đánh bạn với hồn hoa. Sự thác hoá của hồn cây, ma hoa là trở lại sự phân biệt hai thế giới âm và dương, hai cõi sống và chết. Trong truyện Tây viên kỳ ngộ ký,người vẫn là người, hồn ma vẫn là ma. Người bị hồn ma quyến rũ trở nên u mê, kẻ lòng nhiều vật dục nên chạy theo lối sống buông thả. Đó là chuyện quái đản. Kết thúc tác phẩm không thấy tác giả viết về việc Hà Nhân bị nhiễm khí yêu ma nhưng chàng đã dở dang công danh và lỡ làng hôn sự. Dễ dàng nhận thấy thái độ nương nhẹ của Nguyễn Dữ trước sự tha hoá của tầng lớp nho sinh trong trào lưu suy đồi lối sống, đạo đức của nhiều tầng lớp trong xã hội. Bài học rút ra là: người quân tử phải tránh con đường nhỏ, quá ham mê với điều nhỏ sa lầy với nó, sẽ mất đi những điều lớn trong cuộc đời.
Trong quan niệm của Nguyễn Dữ, lối sống phóng đãng, mải mê hành lạc của con người là hành vi sai lạc. Đắm chìm trong ham muốn sắc dục, con người sẽ rơi vào sự lệch chuẩn với đạo lý, cương thường; dần bỏ đạo đức tốt đẹp mà đến với cái xấu xa, đáng ghê sợ; có khi dần xa sự sống mà gần cái chết. Đó là tai hoạ do sự tha hoá nhân cách.
Từ những nội dung trên, xin được rút ra một số điểm như sau:
1. Với văn học trung đại, thể loại là một phạm trù quan trọng, thường được xác định ngay ở tên gọi tác phẩm. Ba tác phẩm viết về chuyện tình giữa người và hồn ma trong TKML cũng đã được ghi rõ: Tây viên kỳ ngộ ký, Mộc miên thụ truyện, Xương Giang yêu quái lục. Nhưng văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại có đặc điểm: “ranh giới giữa truyện và ký hết sức mờ mỏng”(3). Khảo sát nội dung và nghệ thuật của ba tác phẩm trên cho thấy, mặc dù được xếp ở ba loại hình khác nhau (ký, truyện, lục), nhưng trong TKMLký và lục đều thuộc thể loại truyện. Ba thiên này thực chất đều là những truyện ngắn nghệ thuật đặc sắc – tác phẩm văn học kỳ ảo.
2. Văn học kỳ ảo phản ánh sự phong phú, kỳ diệu, không giới hạn của trí tưởng tượng, của ảo giác con người. Nội dung những truyện trên đều rất ly kỳ. Nhưng lại là những điều nghi suy nảy sinh từ cuộc sống hiện thực, được trình bày với muôn hình vạn trạng, biến huyễn lạ lùng, thực hư khó phân biệt. Đó không chỉ là sự thích thú thêu dệt của người sáng tạo mà còn là nhu cầu tiếp nhận của độc giả. Bởi con người không chỉ sống với thực tại mà còn cần sống với tưởng tượng, mộng ảo nhằm thoả mãn khát vọng của mình bằng những việc không có thực, bù đắp cho sự cân bằng tất yếu trong cuộc sống.
3. Văn học kỳ ảo phản ánh sự phức tạp trong tư tưởng con người. Chuyện tình giữa người và hồn ma chỉ là chuyện có trong trí tưởng tượng. Viết về chuyện ma để đạt đến sự thoả mãn hiện thực bằng những việc không có thực. Đó là hoạt động, là trạng thái tư tưởng ở dạng thay thế.
Còn nghi hoặc về chuyện có ma mà vẫn tin là có ma quyến rũ, mê hoặc.  Sợ ma mà lại thấy ma đẹp và có thể đem lại hạnh phúc cho con người. Tin rằng bị ma làm là tai hoạ nhưng vẫn được coi là cách để con người vượt qua nhiều đau khổ trong cuộc sống thực tại. Ở những câu chuyện này, ma vừa là người đã chết, là yêu quái… nhưng cũng chính là hình tượng phúng dụ để nói đến sức lôi kéo và sự nguy hiểm của lối sông buông thả, phóng đãng trong hưởng lạc của con người trước những cám dỗ vật chất của cuộc đời. Đó là hình tượng thực hiện chức năng giáo huấn của văn học.
Viết về chuyện tình giữa người và hồn ma, các tác giả (cả Cù Hựu, cả Nguyễn Dữ) đều thể hiện nhiều quan niệm, vừa khẳng định vừa phủ định; vừa phỉ báng vừa ngợi ca. Bởi mỗi người đều đồng thời xuất phát từ nhiều điểm nhìn trước những vấn đề của cuộc sống hiện thực. Đặc biệt, ở TKML nhóm tác phẩm này đã thể hiện sự mâu thuẫn, rạn vỡ trong tư tưởng của Nguyễn Dữ, giữa nhà đạo đức, nhà Nho họ Nguyễn với nhà văn có tư tưởng tiến bộ của thế kỷ XVI. Trong sáng tác, cả hai tư tưởng đều mạnh mẽ, sâu sắc và quyết liệt.
4. Khảo sát về các truyện của Cù Hựu và của Nguyễn Dữ, cần phải lý giải “cảm giác quen quen nhưng nếu muốn chỉ ra xem nó giống truyện nào của TĐTT thì không thật dễ” (Trần Ích Nguyên). Không phải chỉ cho rằng Nguyễn Dữ đã chịu ảnh hưởng nhiều từ sáng tác của Cù Hựu (do tiếp thu tình tiết, mô típ và bút pháp thể loại…), nhưng vẫn thể hiện sức sáng tạo khéo léo và tài năng nghệ thuật của mình. Mà còn phải quan tâm đến một hiện tượng có tính quy luật của văn học trung đại. Đó là nhiều mô típ folklore, các type truyện dân gian của Việt Nam, Trung Quốc khá gần gũi nhau. Đó cũng là hiện tượng tồn tại trong nhiều nền văn học thế giới. Nhưng từ hiện thực mỗi quốc gia, mỗi nền văn hóa với sự lựa chọn và sáng tạo lại của những tài năng tuyệt vời, sự hiện diện của những mô típ đó rất phong phú, linh hoạt, mới mẻ. Từ những nét chung và riêng của các chuyện tình giữa người và hồn ma trong TĐTT và TKML, có thể khẳng định những đóng góp về nội dung và nghệ thuật tạo nên sự đa dạng của hệ thống truyện ngắn truyền kỳ viết về đề tài này trong khu vực.
TĐTT là thành tựu của truyện truyền kỳ Trung Hoa thế kỷ XIV và TKML là thành tựu đặc sắc của truyện truyền kỳ Việt Nam thời trung đại./.
                                                                    Hà Nội, tháng 5 năm 2006
______________
(1) Xin xem Phạm Tú Châu: Về mối quan hệ giữa Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lụcTạp chí Văn học, số 3-1987, tr.71-78.
(2) Tham khảo Toàn Huệ Khanh: Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết truyền kỳ Hàn Quốc, Trung Quốc, Việt Nam. Nxb. ĐHQG Hà Nội, 2004, 204 trang.
(3) Nguyễn Đăng Na: Văn xuôi tự sự Việt Nam thời Trung đại, Tập II. Nxb. Giáo dục, H, 2001.
- Trần Ích Nguyên: Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục. Nxb. Văn học, Hà Nội, 2000.


Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 4-2007