Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử 6. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử 6. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 30 tháng 12, 2010

Các Vị Chủ Tịch Nước Việt Nam Từ 1946 Đến Nay

  


Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại...
*   Từ 4 tháng 7 năm 1981 đến 22 tháng 9 năm 1992 chức danh này gọi là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.
*   Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu quốc hội.
*  Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.
Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu Chủ tịch nước mới.
Chủ tịch nước hiện nay là Nguyễn Minh Triết.

Nhiệm vụ và quyền hạn

  1. Công bố hiến pháp, luật, pháp lệnh
  2. Thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức vụ chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh
  3. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao
  4. Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ
  5. Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Ủy ban thường vụ Quốc hội, công bố quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, công bố quyết định đại xá
  6. Căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương
  7. Đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về các vấn đề quy định tại điểm 8 và điểm 9, Điều 91 trong thời hạn mười ngày kể từ ngày pháp lệnh hoặc nghị quyết được thông qua; nếu pháp lệnh, nghị quyết đó vẫn được Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí, thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất
  8. Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án, Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao
  9. Quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp cao trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp khác; quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước
  10. Cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam; tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; tiến hành đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với người đứng đầu nước khác; quyết định phê chuẩn hoặc tham gia điều ước quốc tế, trừ trường hợp cần trình Quốc hội quyết định
  11. Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, cho thôi quốc tịch Việt Nam hoặc tước quốc tịch Việt Nam
  12. Quyết định đặc xá

Mối quan hệ với Bộ Chính trị

Những vấn đề thuộc thẩm quyền của Bộ Chính trị, Chủ tịch nước đề xuất hoặc trình.
1- Những vấn đề mà Hội đồng Quốc phòng và An ninh sẽ thảo luận và quyết định liên quan đến tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.
2- Đề xuất những vấn đề thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước liên quan đến việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
3- Những vấn đề mà Chủ tịch nước thấy cần đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét lại trước khi công bố pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội.
4- Phát biểu của Chủ tịch nước với Quốc hội về những vấn đề quan trọng của đất nước để Quốc hội thảo luận và quyết định.
5- Những vấn đề khác Chủ tịch nước thấy cần thiết báo cáo Bộ Chính trị.
(trích Quy định (Bổ sung) số 216-QĐ/TW ngày 01 tháng 4 năm 2009 của Bộ Chính trị)

Danh sách Chủ tịch nước

Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thông qua ngày 9 tháng 11 năm 1946 có quy định về chức vụ Chủ tịch nước:
  • Chính phủ gồm có Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch và Nội các. Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng, có thể có Phó Thủ tướng. (điều 44)
  • Chủ tịch nước chọn Thủ tướng trong quốc hội và đưa ra cho các đại biểu quốc hội biểu quyết (điều 47)
  • Chủ tịch nước có các quyền hạn chính như: thay mặt cho nước; giữ quyền Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc cách chức các tướng soái; ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng, nhân viên Nội các; chủ tọa Hội đồng chính phủ... (điều 49)
Trong hoàn cảnh chiến tranh, Hồ Chí Minh là Chủ tịch nước, đứng đầu Chính phủ, và kiêm nhiệm chức vụ Thủ tướng. Đến năm 1955 chức vụ Thủ tướng được chuyển giao cho Phó Thủ tướng lúc đó là Phạm Văn Đồng đảm nhiệm. Hồ Chí Minh là Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Quốc hội khoá II bầu lại và làm Chủ tịch đến khi ông mất ngày 2 tháng 9 năm 1969. Người kế nhiệm ông ở cương vị này là Tôn Đức Thắng, chính thức từ ngày 22 tháng 9 năm 1969, trước đó là Quyền Chủ tịch nước, cho đến khi đổi tên nước thành Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Sau đây là danh sách các Chủ tịch nước Việt Nam từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập. Tất cả các Chủ tịch nước đều là đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trừ trường hợp đặc biệt là quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng là người không đảng phái.
TênTừĐếnThời gian tại nhiệm
1Hồ Chí Minh2 tháng 9, 19452 tháng 9, 196924 năm, 0 ngày
Huỳnh Thúc Kháng (quyền)31 tháng 5, 194621 tháng 9, 19460 năm, 113 ngày
Tôn Đức Thắng (quyền)3 tháng 9, 196922 tháng 9, 19690 năm, 19 ngày
2Tôn Đức Thắng22 tháng 9, 196930 tháng 3, 198010 năm, 190 ngày
3Nguyễn Hữu Thọ (quyền)30 tháng 3, 19804 tháng 7, 19811 năm, 96 ngày
4Trường Chinh4 tháng 7, 198118 tháng 6, 19875 năm, 349 ngày
5Võ Chí Công18 tháng 6, 198722 tháng 9, 19925 năm, 96 ngày
6Lê Đức Anh23 tháng 9, 199224 tháng 9, 19975 năm, 2 ngày
7Trần Đức Lương24 tháng 9, 199726 tháng 6, 20068 năm, 275 ngày
8Nguyễn Minh Triết27 tháng 6, 2006đương nhiệm4 năm, 187 ngày





















Các Vị Vua Việt Nam Từ Xưa Đến Nay

Các vị vua nước ta từ xưa tới nay!      



 Vua Việt Nam là danh sách các vị vua nước Việt Nam từ khi bắt đầu hình thành nhà nước tới hết thời phong kiến. Do hoàn cảnh lịch sử, vua Việt Nam có thể có những danh hiệu khác nhau, cao nhất là hoàng đế, thấp hơn là "vương", thấp nữa là "công" hoặc "Tiết độ sứ". Sau thời kỳ Bắc thuộc đến triều đại nhà Lý một số vị vua đã xưng hoàng đế, đây là điều thách thức thần quyền đối với các vua Trung Quốc, người vẫn tự xưng là con trời ("thiên tử") vâng mệnh trời ("thiên mệnh") cai trị "thiên hạ". Sau các cuộc tấn công thất bại của nhà Tống, người Hoa đã phải công nhận quyền lực của người Việt ở Thăng Long. Nước Việt được xem như một dạng chư hầu đặc biệt mà Trung Quốc không thể sát nhập bằng vũ lực nhưng ngược lại, người Việt cũng phải công nhận Trung Quốc là một nước lớn, về phương diện ngoại giao phải chịu lép nhường thần quyền con trời, mệnh trời cao hơn cho vua Trung Quốc, tuy vua Việt vẫn có quyền xưng là con trời và vâng mệng trời cai trị con dân nước Việt. Từ đây mô hình chính trị Trung Hoa đã được Việt hóa và phát triển để khẳng định ngai vàng của Hoàng đế nước Nam. Hệ thống triều đình của các vua nước Việt cũng tương tự các triều đình của vua chúa Trung Quốc, các nghi thức và danh phận của các vị quan cũng tương tự như quan lại Trung Quốc. Các vị vua nước Việt đã sử dụng rất nhiều nghi thức, biểu tượng chỉ dành riêng cho vua Trung Quốc như áo long bào màu vàng có rồng 5 móng, giường long sàng, ngôi cửu ngũ, khi chết thì dùng từ "băng hà" và xây lăng có đường hầm dẫn xuống huyệt. Sử dụng các nghi lễ như thờ trời, tế trời ở đàn Nam Giao, được quyền cai quản các thần linh ở nước Việt, có lẽ chỉ ngoại trừ vua Đồng Khánh là vị vua Việt Nam duy nhất chịu làm em của một nữ thần mà thôi. Quyền lực thần quyền của vua Việt không được phép áp đặt lên dân Trung Quốc, ngược lại quyền lực thần quyền của vua chúa Trung Quốc cũng không áp đặt được lên vua quan và dân nước Việt, các quan của triều đình Việt Nam thì chỉ tuân lệnh và trung thành với vua Việt Nam mà thôi. Quan hệ triều cống với Trung Quốc được coi là lựa chọn thay thế duy nhất cho đối đầu, chiến tranh hoặc cấm vận kinh tế. Vì vậy Việt Nam trên danh nghĩa vẫn là một nước chư hầu của Trung Quốc, hầu hết các vị vua Việt Nam lên ngôi đều phải chịu sắc phong của Trung Quốc; hoặc phải để vua Trung Quốc hợp thức hóa vương vị và thần quyền của mình. Một số vua khác chỉ trị vì trên danh nghĩa, quyền lực thực sự lại nằm trong các vị chúa hoặc các đại thần và phe cánh. Hầu hết các vị vua đều được biết bằng miếu hiệu, trong khi các vua nhà Nguyễn được biết bằng niên hiệu. Sau đây là danh sách các vị vua Việt Nam trong thời kỳ phong kiến...

Nhà Hồng Bàng và nước Văn LangCác vị vua, lãnh đạo/ Tên huý/ Năm trị vì.Lục Dương Vương/ Kinh Dương Vương, Hùng Dương hay Lộc Tục
1. Hùng Hiển Vương/ Lạc Long Quân, Hùng Hiền hay Sùng Lãm
2. Hùng Quốc Vương/ Lân Lang Hùng Diệp Vương/ Bảo Lang
3. Hùng Hy Vương/ Viên Lang
4. Hùng Huy Vương/ Pháp Hải Lang
5. Hùng Chiêu Vương/ Lang Liêu Lang
6. Hùng Vi Vương/ Thừa Vân Lang
7. Hùng Định Vương/ Quân Lang
8. Hùng Nghi Vương/ Hùng Hải Lang
9. Hùng Trinh Vương/ Hưng Đức Lang
10. Hùng Vũ Vương/ Đức Hiền Lang
11. Hùng Việt Vương/ Tuấn Lang
12. Hùng Anh Vương/ Chân Nhân Lang
13. Hùng Triệu Vương/ Cảnh Chiêu Lang
14. Hùng Tạo Vương/ Đức Quân Lang
15. Hùng Nghi Vương/ Bảo Quang Lang
16. Hùng Duệ Vương/ Huệ Lang
Nhà Thục và nước Âu Lạc1. An Dương Vương/ Thục Phán/ 257-207 TCNNhà Triệu và nước Nam Việt1. Triệu Vũ Vương/ Triệu Đà/ 207-137 TCN 2. Triệu Văn Vương/ Triệu Hồ/ 137-125 TCN
3. Triệu Minh Vương/ Triệu Anh Tề/ 125-113 TCN
4. Triệu Ai Vương/ Triệu Hưng/ 113-112 TCN
5. Triệu Thuật Dương Vương/ Triệu Kiến Đức/112-111 TCN
Bắc thuộc (111-938)1. Giao Chỉ và nhà Tây Hán/ 111 TCN-39.
2. Nhà Đông Hán/ 25-220
3. Hai Bà Trưng/ Trưng Vương/ Trưng Trắc, Trưng Nhị/ 40-43
4. Nhà Đông Ngô/ 222-280
5. Bà Triệu/ Triệu Thị Trinh/ 248
6. Nhà Tấn/ 265-420
7. Nhà Lưu Tống/ 420-479
8. Nhà Nam Tề/ 479-502
9. Nhà Lương/ 502-541
Nhà Tiền Lý Nước Vạn Xuân độc lập...1. Lý Nam Đế/Lý Bí - Lý Bôn/ 541-548 2. Triệu Việt Vương/ Triệu Quang Phục/ 549-571
3. Hậu Lý Nam Đế/ Lý Phật Tử/ 571-602
4. Mai Hắc Đế/ Mai Thúc Loan/ 722
5. Bố Cái Đại Vương/ Phùng Hưng, Phùng An, Dương Thanh/ 766-820.
Tự chủ (906-938)1. Tĩnh Hải Tiết độ sứ (Tiên chủ)/ Khúc Thừa Dụ/ 906-907
2. Tĩnh Hải Tiết độ sứ (Trung chủ)/ Khúc Hạo (Khúc Thừa Hạo)/ 907-917
3. Tĩnh Hải Tiết độ sứ (Hậu chủ)/ Khúc Thừa Mỹ/ 917-923/930
4. Tĩnh Hải Tiết độ sứ (Dương Chính công)/ Dương Đình Nghệ (Dương Diên Nghệ)/ 931-937
5. Tiết độ sứ/ Kiều Công Tiễn/ 937-938
Các vua nhà Triệu là người Hán, không phải người Việt
Nhà Ngô (939-965)Các vị vua/ Niên hiệu/ Tên huý/ Năm trị vì/ Tuổi thọ.1. Tiền Ngô Vương/ không có/ Ngô Quyền/ 939-944
2. Dương Bình Vương - Dương Tam Kha/ không có/ (Dương Chủ Tướng, Dương Thiệu Hồng)/944-950
3. Hậu Ngô Vương - Ngô Xương Ngập/ không có/ Ngô Xương Văn/ 950-965
Tiếp đến là thời kỳ loạn 12 sứ quân (966-968)
Dương Tam Kha cướp ngôi của nhà Ngô và làm vua trong 6 năm.
Thời Hậu Ngô Vương gồm hai vị vua Nam Tấn Vương và Thiên Sách Vương cùng trị vì.
Nhà Đinh (968-979)1. Đinh Tiên Hoàng/ Thái Bình/ Đinh Bộ Lĩnh (Đinh Hoàn)/968-979/ 56
2. Đinh Phế Đế/ Thái Bình (dùng tiếp niên hiệu cũ)/ Đinh Toàn (Đinh Tuệ)/ 979-980/ 27
Nhà Tiền Lê (980-1009)1. Lê Đại Hành/ Thiên Phúc,Hưng Thống(989-993),Ứng Thiên (994-1005)/ Lê Hoàn/ 980-1005/ 64
2. Lê Trung Tông/ không có/ Lê Long Việt/ 1005 (3 ngày)/ 23
Lê Ngoạ Triều/ Cảnh Thụy (1008-1009)/ Lê Long Đĩnh/ 1005-1009/ 24
Nhà Lý (1010-1225)1. Lý Thái Tổ/ Thuận Thiên/ Lý Công Uẩn/ 1010-1028/ 55
2. Lý Thái Tông/ Thiên Thành(1028-1033), Thông Thụy(1034-1038), Càn Phù Hữu Đạo(1039-1041), Minh Đạo(1042-1043), Thiên Cảm Thánh Võ(1044-1048), Sùng Hưng Đại Bảo(1049-1054)/ Lý Phật Mã/ (1028-1054)/ 55
3. Lý Thánh Tông/ Long Thụy Thái Bình (1054-1058), Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065), Long Chương Thiên Tự (1066-1067), Thiên Huống Bảo Tượng (1060), Thần Võ (1069-1072)/ Lý Nhật Tông/ 1054-1072/ 50
4. Lý Nhân Tông/ Thái Ninh (1072-1075),Anh Võ Chiêu Thắng (1076-1084), Quảng Hữu (1085-1091), Hội Phong (1092-1100), Long Phù (1101-1109), Hội Tường Đại Khánh (1110-1119),Thiên Phù Duệ Võ (1120-1126),Thiên Phù Khánh Thọ (1127)/ Lý Càn Đức/ (1072-1127)/ 63
5. Lý Thần Tông/ Thiên Thuận (1128-1132),Thiên Chương Bảo Tự (1133-1137)/Lý Dương Hoán/ 1128-1138/ 23
6. Lý Anh Tông/ Thiệu Minh (1138-1139), Đại Định (1140-1162), Chính Long Bảo Ứng 1163-1173), Thiên Cảm Chí Bảo (1174-1175)/ Lý Thiên Tộ/ 1138-1175/ 40
7. Lý Cao Tông/ Trinh Phù (1176-1185)/ Thiên Gia Bảo Hữu (1202-1204), Trị Bình Long Ứng (1205-1210)/ Lý Long Trát (Lý Long Cán)/ 1176-1210/ 38
8. Lý Huệ Tông/ Kiến Gia/ Lý Sảm/ 1211-1224/ 33
9. Lý Chiêu Hoàng/ Thiên Chương Hữu Đạo/ Lý Phật Kim (Lý Thiên Hinh)/ 1224-1225/ 60
Nhà Trần (1225-1400)1. Trần Thái Tông/ Kiến Trung (1225-1237), Thiên Ứng Chính Bình (1238-1350), Nguyên Phong (1251-1258)/ Trần Cảnh/ 1225-1258/ 60
2. Trần Thánh Tông/ Thiệu Long (1258-1272), Bảo Phù (1273-1278)/ Trần Hoảng/ 1258-1278/ 51
3. Trần Nhân Tông/ Thiệu Bảo (1279-1284), Trùng Hưng (1285-1293)/ Trầm Khâm/ 1279-1293/ 50
4. Trần Anh Tông/ Hưng Long/ Trần Thuyên/ 1293-1314/ 54
5. Trần Minh Tông/ Đại Khánh (1314-1323), Khai Thái (1324-1329)/ Trần Mạnh/ 1314-1329/ 58
6. Trần Hiến Tông/ Khai Hữu/ Trần Vượng/ 1329-1341/ 23
7. Trần Dụ Tông/ Thiệu Phong (1341-1357), Đại Trị (1358-1369)/ Trần Hạo/ 1341-1369/ 33
8. Hôn Đức Công/ Đại Định/ Dương Nhật Lễ/ 1369-1370 ?
9. Trần Nghệ Tông/ Thiệu Khánh/ Trần Phủ/ 1370-1372/ 74
10. Trần Duệ Tông/ Long Khánh/ Trần Kính/ 1372-1377/ 40
11. Trần Phế Đế/ Xương Phù/ Trần Hiện/ 1377-1388/ 27
12. Trần Thuận Tông/ Quang Thái/ Trần Ngung/ 1388-1398/ 22
13. Trần Thiếu Đế/ Kiến Tân/ Trần Án/ 1398-1400
Nhà Hồ (1400-1407)1. Hồ Quý Ly/ Thánh Nguyên/ Hồ Quý Ly/ 1400
2. Hồ Hán Thương/ Thiệu Thành (1401-1402), Khai Đại (1403-1407)/ Hồ Hán Thương/ 1401-1407
Nhà Hậu Trần (1407-1413)1. Giản Định Đế/ Hưng Khánh/ Trần Ngỗi/ 1407-1409
2. Trùng Quang Đế/ Trùng Quang/ Trần Quý Khoáng/ 1409-1413
Thời thuộc Minh (1407-1427)1. Trần Cảo/ Thiên Khánh/ Trần Cảo/ 1426-1428Nhà Hậu Lê thời Lê sơ (1428-1527)Các vị vua/ Thụy hiệu/ Niên hiệu/ Tên huý/ Năm trị vì/ Tuổi thọ.1. Lê Thái Tổ/ Cao Hoàng Đế/ Thuận Thiên/ Lê Lợi/ 1428-1433/ 49
2. Lê Thái Tông/ Văn Hoàng Đế/Thiệu Bình (1434-1440), Đại Bảo (1440-1442)/ Lê Nguyên Long/ 1433-1442/ 20
3. Lê Nhân Tông/ Tuyên Hoàng Đế/ Đại Hòa,Thái Hòa (1443-1453),Diên Ninh (1454-1459)/ Lê Bang Cơ/ 1442-1459/ 19
4. Lệ Đức Hầu (Lạng Sơn Vương)/ Thiên Hưng (1459-1460), Lê Nghi Dân/ 1459-1460/ 21
5. Lê Thánh Tông/ Thuần Hoàng Đế/ Quang Thuận (1460-1469)/ Hồng Đức (1470-1497)/ Lê Tư Thành (Lê Hạo)/ 1460-1497/ 56
6. Lê Hiến Tông/ Duệ Hoàng Đế/ Cảnh Thống/ Lê Tranh/ 1497-1504/ 44
7. Lê Túc Tông/ Khâm Hoàng Đế/ Thái Trinh/ Lê Thuần/ 6/1504-12/1504/ 17
8. Lê Uy Mục/ Uy Mục Đế/ Đoan Khánh/ Lê Tuấn/ 1505-1509/ 22
9. Lê Tương Dực/ Tương Dực Đế/ Hồng Thuận/ Lê Oanh/ 1510-1516/ 24
10. Lê Chiêu Tông/ Thần Hoàng Đế/ Quang Thiệu (1516-1526)/Lê Y/ 1516-1522/ 26
11. Lê Cung Hoàng/ Cung Hoàng Đế/ Thống Nguyên (1522-1527)/ Lê Xuân/ 1522-1527/ 21
Nhà Hậu Lê thời Lê Trung Hưng (1533-1788)Miếu hiệu/ Niên hiệu/ Tên huý/ Năm trị vì/ Tuổi thọ.Nam Triều - Bắc TriềuTrong thời điểm này nhà Mạc và nhà Hậu Lê tranh giành quyền lực với nhau, nhà Hậu Lê tại miền nam và nhà Mạc tại miền bắc.Nam Triều - Nhà Hậu Lê1. Lê Trang Tông/ Nguyên Hòa / Lê Duy Ninh/ 1533-1548/ 31
2. Lê Trung Tông/ Thuận Bình/ Lê Huyên/ 1548-1556/ 28
3. Lê Anh Tông/ Thiên Hữu (1557), Chính Trị (1558-1571), Hồng Phúc (1572-1573)/ Lê Duy Bang/ 1556-1573/ 42
4. Lê Thế Tông/ Gia Thái (1573-1577), Quang Hưng (1578-1599)/ Lê Duy Đàm/ 1573-1599/ 33
Bắc Triều - Nhà Mạc (1527-1592)1. Mạc Thái Tổ/ Minh Đức/ Mạc Đăng Dung/ 1527-1529/ 59
2. Mạc Thái Tông/ Đại Chính/ Mạc Đăng Doanh/ 1530-1540
3. Mạc Hiến Tông/ Quãng Hòa/ Mạc Phúc Hải/ 1541-1546
4. Mạc Tuyên Tông/ Vĩnh Định (1547),Cảnh Lịch (1548-1553), Quang Bảo (1554-1561)/ Mạc Phúc Nguyên/ 1546-1561
5. Mạc Mậu Hợp/ Thuần Phúc (1562-1565), Sùng Khang (1566-1577), Diên Thành (1578-1585), Đoan Thái (1586-1587), Hưng Trị (1588-1590), Hồng Ninh (1591-1592)/ Mạc Mậu Hợp/ 1562-1592/ 31
6. Mạc Toàn/ Vũ Anh (1592-1592)/ Mạc Toàn/ 1592 ?
Con cháu nhà Mạc rút lên Cao Bằng, tồn tại cho đến năm 1677 mới bị diệt hẳn:
• Mạc Kính Chỉ (1592-1593)
• Mạc Kính Cung (1593-1625)
• Mạc Kính Khoan (1623-1638)
• Mạc Kính Vũ (Mạc Kính Hoàn) (1638-1677)
Trịnh - Nguyễn phân tranhTrong thời kỳ này các vua Lê chỉ trị vì trong danh nghĩa mà thôi. Quyền lực nằm trong tay chúa Trịnh ở Đàng Ngoài (miền bắc) và chúa Nguyễn ở Đàng Trong (miền nam).Vua Lê(1600-1789)Các vị vua/ Niên hiệu/ Tên huý/ Năm trị vì/ Tuổi thọ.1. Lê Kính Tông/Thận Đức (1600), Hoằng Định (1601-1619)/ Lê Duy Tân/ 1600-1619/ 32
2. Lê Thần Tông (lần 1)/ Vĩnh Tộ (1620-1628), Đức Long (1629-1643), Dương Hòa (1635-1643)/ Lê Duy Kỳ/ 1619-1643/ 56
3. Lê Chân Tông/ Phúc Thái/ Lê Duy Hựu/ 1643-1649/ 20
4. Lê Thần Tông (lần 2)/ Khánh Đức (1649-1652), Thịnh Đức (1653-1657), Vĩnh Thọ (1658-1661), Vạn Khánh (1662), Lê Duy Kỳ/ 1649-1662/ 56
5. Lê Huyền Tông/ Cảnh Trị/ Lê Duy Vũ/ 1663-1671/ 18
6. Lê Gia Tông/ Dương Đức (1672-1773), Đức Nguyên (1674-1675)/ Lê Duy Hợi(Lê Duy Cối , Lê Duy Khoái)/ 1672-1675/ 15
7. Lê Hy Tông/ Vĩnh Trị (1678-1680)/ Chính Hòa (1680-1705)/ Lê Duy Hợp/ 1676-1704/ 54
8. Lê Dụ Tông/ Vĩnh Thịnh (1706-1719)/ Bảo Thái (1720-1729)/ Lê Duy Đường/ 1705-1728/ 52
9. Hôn Đức Công/ Vĩnh Khánh/ Lê Duy Phường/ 1729-1732
10.Lê Thuần Tông/ Long Đức/ Lê Duy Tường/ 1732-1735/ 37
11. Lê Ý Tông/ Vĩnh Hữu/ Lê Duy Thìn/ 1735-1740/ 41
12. Lê Hiển Tông/ Cảnh Hưng/ Lê Duy Diêu/ 1740-1786/ 70
13. Lê Mẫn Đế/ Chiêu Thống/ Lê Duy Khiêm (Lê Duy Kỳ)/ 1787-1789/ 28
Chúa Trịnh (1545-1786)Các vị chúa/ Tên huý/ Năm trị vì/ Tuổi thọ.1. Thế Tổ Minh Khang Thái Vương/ Trịnh Kiểm/ 1545-1570/ 68
2. Bình An Vương/ Trịnh Tùng/ 1570-1623/ 74
3. Thanh Đô Vương/ Trịnh Tráng/ 1623-1652/ 81
4. Tây Định Vương/ Trịnh Tạc/ 1653-1682/ 77
5. Định Nam Vương/ Trịnh Căn/ 1682-1709/ 77
6. An Đô Vương/ Trịnh Cương/ 1709-1729/ 44
7. Uy Nam Vương/ Trịnh Giang/ 1729-1740/ 51
8. Minh Đô Vương/ Trịnh Doanh/ 1740-1767/ 48
9. Tĩnh Đô Vương/ Trịnh Sâm/ 1767-1782/ 44
10. Điện Đô Vương/ Trịnh Cán/ 1782 (2 tháng)/ 6
11. Đoan Nam Vương/ Trịnh Khải/ 1782-1786/ 24
12. Án Đô Vương/ Trịnh Bồng/ 1786-1787
Chúa Nguyễn (1600-1802)1. Chúa Tiên/ Nguyễn Hoàng/ 1600-1613/ 89
2. Chúa Sãi hay Chúa Bụt/ Nguyễn Phúc Nguyên/ 1613-1635/ 73
3. Chúa Thượng/ Nguyễn Phúc Lan/ 1635-1648/ 48
4. Chúa Hiền/ Nguyễn Phúc Tần/ 1648-1687/ 68
5. Chúa Nghĩa/ Nguyễn Phúc Trăn/ 1687-1691/ 43
6. Chúa Minh/ Nguyễn Phúc Chu/ 1691-1725/ 51
7. Chúa Ninh/ Nguyễn Phúc Chú/ 1725-1738/ 43
8. Chúa Vũ (Vũ Vương)/ Nguyễn Phúc Khoát/ 1738-1765/ 52
9. Chúa Định (Định Vương)/ Nguyễn Phúc Thuần/ 1765-1777/ 24
10. Nguyễn Ánh/ Nguyễn Phúc Ánh/ 1781-1802/ 59
Nhà Tây Sơn (1778-1802)Các vị vua/ Niên hiệu/ Tên huý/ Năm trị vì/ Tuổi thọ1. Thái Đức Hoàng Đế/ Thái Đức/ Nguyễn Nhạc/ 1778-1793
2. Thái Tổ Vũ Hoàng Đế/ Quang Trung/ Nguyễn Huệ/ 1788-1792/ 40
3. Cảnh Thịnh Hoàng Đế/ Cảnh Thịnh,Bảo Hưng/ Nguyễn Quang Toản/ 1792-1802/ 20
Nhà Nguyễn (1802-1945)Niên hiệu/ Miếu hiệu/ Tên huý/ Năm trị vì/ Tuổi thọ1. Gia Long/ Nguyễn Thế Tổ/ Nguyễn Phúc Ánh/ 1802-1819/ 59
2. Minh Mạng/ Nguyễn Thánh Tổ/ Nguyễn Phúc Đảm/ 1820-1840/ 50
3. Thiệu Trị/ Nguyễn Hiến Tổ/ Nguyễn Phúc Miên Tông/ 1841-1847/ 41
4. Tự Đức/ Nguyễn Dực Tông/ Nguyễn Phúc Hồng Nhậm/ 1848-1883/ 55
5. Dục Đức/ Nguyễn Cung Tông/ Nguyễn Phúc Ưng Ái(Nguyễn Phúc Ưng Chân)/ 1883 (3 ngày)/ 30
6. Hiệp Hoà/ Nguyễn Phúc Hồng Dật/ 6/1883-11/1883/ 36
7. Kiến Phúc/ Nguyễn Giản Tông/ Nguyễn Phúc Ưng Đăng/ 12.1883-8.1884/ 15
8. Hàm Nghi/ Nguyễn Phúc Ưng Lịch/ 8.1884-8.1885/ 64
9. Đồng Khánh/ Nguyễn Cảnh Tông (Nguyễn Phúc Ưng Đường)/ 1885-1888 /25
10. Thành Thái/ Nguyễn Phúc Bửu Lân/ 1889-1907 /74
11. Duy Tân/ Nguyễn Phúc Vĩnh San/ 1907-1916 /46
12. Khải Định/ Nguyễn Hoằng Tông/ Nguyễn Phúc Bửu Đảo/ 1916-1925 /41
13. Bảo Đại/ Nguyễn Phúc Vĩnh Thuỵ/ 1926-1945 /85

Việt Nam Thời Nguyên Thủy


Thời đại Đá cũ và dấu vết Người Vượn ở Việt NamIn

Thời đại Đá cũ và dấu vết Người Vượn ở Việt Nam
ImageTrong buổi bình minh của lịch sử, Việt Nam là một trong những quê hương của loài người. Người ta đã phát hiện thấy người vượn ở Bình-Gia (Lạng Sơn), nhiều công cụ thuộc buổi đầu thời kỳ đồ đá cũ ở núi Đọ, núi Quan Yên (Thanh Hoá). Đó là dấu vết xưa nhất hiện nay ta biết về giai đoạn bầy người nguyên thủy trên đất nước ta.Thời ấy cách ngày nay hàng mấy chục vạn năm.
Bấy giờ, mực nước biển Đông thấp gần trăm mét so với ngày nay. Vì vậy, đất nước ta khi ấy qua bán đảo Ma-lai-xi-a còn nối liền với các đảo Gia-va, Xu-ma-tơ-ra, Ca-li-man-tan của In-đô-nê-xi-a. Các kết quả nghiên cứu địa chất và khí hậu học còn cho biết trong thời kỳ này xen kẽ những kỳ khô hạn là những kỳ mưa nhiều khiến khí hậu Việt Nam ẩm và mát hơn bây giờ một chút. Trong rừng rậm, trên thảo nguyên, có nhiều đàn voi răng kiếm, gấu mèo, tê ngưu, lợn lòi, hổ, báo, hươu, nai, đười ươi, vượn, khỉ, cầy, chồn...sinh sống. Những bầy người nguyên thuỷ sống dựa vào hang đá, lùm cây, đi dọc bờ suối, bờ sông tìm kiếm thức ăn bằng hái lượm và săn bắt.
Người ta đã phát hiện được ở núi Đọ hàng vạn công cụ đồ đá cũ; người Việt cổ khai thác đá gốc (ba-dan) ở sườn núi, ghè đẽo thô sơ, tạo nên những công cụ chặt, rìu tay, nạo...bỏ lại nơi chế tác những mảnh đá vỡ, thuật ngữ khảo cổ gọi là mảnh tước. Với những đồ đá đó, người nguyên thủy có thể chặt cây, vót gậy tre, lao gỗ, xẻ thịt, đập vỡ xương thú săn bắt được... Loại hình công cụ nghèo nàn, kỹ thuật ghè đẽo thô sơ là đặc điểm của thời kỳ đồ đá cũ. Di tích núi Đọ là bằng chứng về sự có mặt của những chủ nhân sớm nhất trên lãnh thổ Việt Nam vào thời kỳ tổ chức xã hội loài người đang hình thành.
Cách ngày nay khoảng ba, bốn vạn năm, vào thời kỳ bộ tộc nguyên thuỷ, cư dân bản địa đã đông đúc hơn. Người ta đã phát hiện được dấu tích con người cùng với những hóa thạch động vật cổ ở hang Hùm (Yên Bái), hàng Thung Lân (Ninh Bình). Đó là những thị tộc, bộ lạc sống trong hang động miền núi đá vôi. Tuy nhiên, cũng đã có những thị tộc, bộ lạc tiến ra sinh sống ở miền đồi trung du vốn là miền phù sa cổ của sông Hồng với rừng rậm phủ dày. Những hiện vật đá cuội ghè đẽo thô sơ thuộc cuối thời đại đồ đá cũ hoặc đầu thời đại đồ đá giữa tìm thấy ở di chỉ Sơn Vi (Phú Thọ) là những minh chứng chắc chắn cho giả thuyết này.
Văn hóa đá cuội ghè được tiếp nối với hai nền văn hóa Hòa Bình (thuộc thời đại đồ đá giữa) và văn hóa Bắc Sơn (thuộc buổi đầu thời đại đồ đá mới) cách ngày nay khoảng một vạn năm. Ở các nền văn hoá này, bên cạnh kỹ thuật chẻ đẽo, người nguyên thủy đã phát minh kỹ thuật mài, tạo nên những chiếc rìu Bắc Sơn (rìu tứ giác mài lưỡi) nổi tiếng. Văn hóa Bắc Sơn là một trong những di chỉ văn hóa có rìu mài sớm trên thế giới. Cũng trong thời kỳ này người ta còn phát hiện được những đồ gốm đầu tiên được nặn bằng tay.
Việt Nam là đất nước của hàng trăm loại tre, nứa. Tre, nứa đóng vai trò rất quan trọng trong nền văn hóa nguyên thủy cũng như trong đời sống người Việt Nam sau này. Chúng được dùng làm gậy, lao, cung tên, đồ đan lát, thừng bện... Do bị thời gian huỷ hoại nên đến nay không còn chứng tích công cụ tre, nứa của người Việt cổ; tuy nhiên ta vẫn có thể tìm thấy dấu vết của tre, nứa trên các hoa văn đồ gốm sơ kỳ.
Cùng những thị tộc, bộ lạc ở miền núi, trung du trên đất nước Việt Nam khi ấy, còn có những tập đoàn người nguyên thủy sinh sống ở miền ven biển Đông. Họ là chủ nhân của các nền văn hóa Quỳnh Văn (Nghệ An), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi). Trải qua mấy nghìn năm, đống vỏ sò điệp do họ vứt ra sau những bữa ăn đã chất cao thành gò, rộng hàng trăm mét vuông. Người nguyên thủy sinh sống ở ven bờ biển còn khai thác đá gốc (thạch anh) làm công cụ. Họ chôn người chết trong những mộ huyệt tròn đào giữa đống sò điệp và chôn theo người chết một vài công cụ đá, đồ trang sức bằng vỏ ốc xuyên lỗ...
Với đồ đá, đồ tre gỗ, đồ đựng bằng đất nung, các thị tộc nguyên thủy đi săn và hái lượm có hiệu quả hơn. Ngoài việc mò cua, bắt ốc, chủ nhân các nền văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn còn săn được nhiều thú như lợn rừng, hươu nai, trâu bò rừng, tê ngưu, voi... Chủ nhân các nền văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn, Quỳnh Văn đã biết nuôi chó, trồng một số cây ăn quả, cây cỏ củ, rau đậu, dưa... . Từ cuộc sống hái lượm những sản vật sẵn có của tự nhiên, người nguyên thủy Việt Nam sớm bước vào cuộc sống sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh nghề săn, nghề đánh cá phát đạt, nghề nông đã ra đời cùng với việc chăn nuôi gia súc nhất là trên các vùng châu thổ của các con sông lớn.
Nhiều nhà nông học khẳng định bán đảo Đông Dương là quê hương của cây lúa. Ở đây có nhiều loại lúa hoang hiện còn tồn tại ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, bà con trong vùng thường gọi là lúa ma hoặc lúa trời. Dấu vết con người thời kỳ nguyên thủy có thể tìm thấy ở mọi miền trên đất nước Việt Nam từ vùng cực Bắc đến cực Nam. Họ để lại những di tích hang động và di tích ngoài trời ở miền núi, đồng bằng kể cả ở những vùng đất thấp sình lầy Nam Bộ trước khi hình thành nhà nước Việt Nam đầu tiên. Như vậy là vào thời đại đồ đá, trên nhiều vùng ở nước ta đã xuất hiện những nền văn hóa nguyên thủy đặc sắc, trong đó bên cạnh nền kinh tế hái lượm đã bắt đầu phát triển nền kinh tế sản xuất nông nghiệp lúa nước.
Con người đã xuất hiện khá sớm trên đất Việt Nam. Cho đến nay, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy dấu vết của người vượn Homo erectus trong một số hang động ở Lạng Sơn và Nghệ An. Ðặc biệt là ở hậu kỳ thời đá cũ (văn hoá Sơn Vi cách ngày nay 10.000 - 23.000 năm), con người đã phân bố khá rộng và khá đông trên đất Việt Nam.
Văn hoá Sơn Vi
Văn hoá Sơn Vi mang tên xã Sơn Vi, huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ, do các nhà khảo cổ Việt Nam phát hiện và xác lập danh pháp vào năm 1968. Đến nay, hơn 140 địa điểm VHSV được phát hiện, phân bố chủ yếu trên các đồi gò trung du, một số di tích hang động Bắc Việt Nam. Công cụ đều làm từ đá cuội sông suối, ghè đẽo một mặt là chính, vết ghè trên một rìa cạnh tạo ra công cụ mũi nhọn, rìa lưỡi dọc, rìa lưỡi ngang, phần tư viên cuội, hai hoặc ba rìa; cùng với một số công cụ mảnh tước kém định hình. Cư dân VHSV chưa biết đến kĩ thuật mài công cụ đá và làm gốm, hoạt động kinh tế chủ yếu là săn bắn và hái lượm, chưa biết trồng trọt và chăn nuôi. VHSV có niên đại cuối Cánh Tân (Late Pleistocene), tồn tại trong khoảng từ 23.000 đến 11.000 năm cách ngày nay. VHSV khác văn hoá Hoà Bình, có trước văn hoá Hoà Bình và phát triển sang văn hoá Hoà Bình, thuộc hậu kì thời đại đá cũ. (Xem hình) .
Image