Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử 9. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử 9. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 30 tháng 12, 2010

Các Vị Chủ Tịch Nước Việt Nam Từ 1946 Đến Nay

  


Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại...
*   Từ 4 tháng 7 năm 1981 đến 22 tháng 9 năm 1992 chức danh này gọi là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.
*   Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu quốc hội.
*  Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.
Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu Chủ tịch nước mới.
Chủ tịch nước hiện nay là Nguyễn Minh Triết.

Nhiệm vụ và quyền hạn

  1. Công bố hiến pháp, luật, pháp lệnh
  2. Thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức vụ chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh
  3. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao
  4. Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ
  5. Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Ủy ban thường vụ Quốc hội, công bố quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, công bố quyết định đại xá
  6. Căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương
  7. Đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về các vấn đề quy định tại điểm 8 và điểm 9, Điều 91 trong thời hạn mười ngày kể từ ngày pháp lệnh hoặc nghị quyết được thông qua; nếu pháp lệnh, nghị quyết đó vẫn được Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí, thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất
  8. Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án, Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao
  9. Quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp cao trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp khác; quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước
  10. Cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam; tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; tiến hành đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với người đứng đầu nước khác; quyết định phê chuẩn hoặc tham gia điều ước quốc tế, trừ trường hợp cần trình Quốc hội quyết định
  11. Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, cho thôi quốc tịch Việt Nam hoặc tước quốc tịch Việt Nam
  12. Quyết định đặc xá

Mối quan hệ với Bộ Chính trị

Những vấn đề thuộc thẩm quyền của Bộ Chính trị, Chủ tịch nước đề xuất hoặc trình.
1- Những vấn đề mà Hội đồng Quốc phòng và An ninh sẽ thảo luận và quyết định liên quan đến tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.
2- Đề xuất những vấn đề thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước liên quan đến việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
3- Những vấn đề mà Chủ tịch nước thấy cần đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét lại trước khi công bố pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội.
4- Phát biểu của Chủ tịch nước với Quốc hội về những vấn đề quan trọng của đất nước để Quốc hội thảo luận và quyết định.
5- Những vấn đề khác Chủ tịch nước thấy cần thiết báo cáo Bộ Chính trị.
(trích Quy định (Bổ sung) số 216-QĐ/TW ngày 01 tháng 4 năm 2009 của Bộ Chính trị)

Danh sách Chủ tịch nước

Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thông qua ngày 9 tháng 11 năm 1946 có quy định về chức vụ Chủ tịch nước:
  • Chính phủ gồm có Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch và Nội các. Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng, có thể có Phó Thủ tướng. (điều 44)
  • Chủ tịch nước chọn Thủ tướng trong quốc hội và đưa ra cho các đại biểu quốc hội biểu quyết (điều 47)
  • Chủ tịch nước có các quyền hạn chính như: thay mặt cho nước; giữ quyền Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc cách chức các tướng soái; ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng, nhân viên Nội các; chủ tọa Hội đồng chính phủ... (điều 49)
Trong hoàn cảnh chiến tranh, Hồ Chí Minh là Chủ tịch nước, đứng đầu Chính phủ, và kiêm nhiệm chức vụ Thủ tướng. Đến năm 1955 chức vụ Thủ tướng được chuyển giao cho Phó Thủ tướng lúc đó là Phạm Văn Đồng đảm nhiệm. Hồ Chí Minh là Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Quốc hội khoá II bầu lại và làm Chủ tịch đến khi ông mất ngày 2 tháng 9 năm 1969. Người kế nhiệm ông ở cương vị này là Tôn Đức Thắng, chính thức từ ngày 22 tháng 9 năm 1969, trước đó là Quyền Chủ tịch nước, cho đến khi đổi tên nước thành Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Sau đây là danh sách các Chủ tịch nước Việt Nam từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập. Tất cả các Chủ tịch nước đều là đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trừ trường hợp đặc biệt là quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng là người không đảng phái.
TênTừĐếnThời gian tại nhiệm
1Hồ Chí Minh2 tháng 9, 19452 tháng 9, 196924 năm, 0 ngày
Huỳnh Thúc Kháng (quyền)31 tháng 5, 194621 tháng 9, 19460 năm, 113 ngày
Tôn Đức Thắng (quyền)3 tháng 9, 196922 tháng 9, 19690 năm, 19 ngày
2Tôn Đức Thắng22 tháng 9, 196930 tháng 3, 198010 năm, 190 ngày
3Nguyễn Hữu Thọ (quyền)30 tháng 3, 19804 tháng 7, 19811 năm, 96 ngày
4Trường Chinh4 tháng 7, 198118 tháng 6, 19875 năm, 349 ngày
5Võ Chí Công18 tháng 6, 198722 tháng 9, 19925 năm, 96 ngày
6Lê Đức Anh23 tháng 9, 199224 tháng 9, 19975 năm, 2 ngày
7Trần Đức Lương24 tháng 9, 199726 tháng 6, 20068 năm, 275 ngày
8Nguyễn Minh Triết27 tháng 6, 2006đương nhiệm4 năm, 187 ngày





















Các Vị Vua Việt Nam Từ Xưa Đến Nay

Các vị vua nước ta từ xưa tới nay!      



 Vua Việt Nam là danh sách các vị vua nước Việt Nam từ khi bắt đầu hình thành nhà nước tới hết thời phong kiến. Do hoàn cảnh lịch sử, vua Việt Nam có thể có những danh hiệu khác nhau, cao nhất là hoàng đế, thấp hơn là "vương", thấp nữa là "công" hoặc "Tiết độ sứ". Sau thời kỳ Bắc thuộc đến triều đại nhà Lý một số vị vua đã xưng hoàng đế, đây là điều thách thức thần quyền đối với các vua Trung Quốc, người vẫn tự xưng là con trời ("thiên tử") vâng mệnh trời ("thiên mệnh") cai trị "thiên hạ". Sau các cuộc tấn công thất bại của nhà Tống, người Hoa đã phải công nhận quyền lực của người Việt ở Thăng Long. Nước Việt được xem như một dạng chư hầu đặc biệt mà Trung Quốc không thể sát nhập bằng vũ lực nhưng ngược lại, người Việt cũng phải công nhận Trung Quốc là một nước lớn, về phương diện ngoại giao phải chịu lép nhường thần quyền con trời, mệnh trời cao hơn cho vua Trung Quốc, tuy vua Việt vẫn có quyền xưng là con trời và vâng mệng trời cai trị con dân nước Việt. Từ đây mô hình chính trị Trung Hoa đã được Việt hóa và phát triển để khẳng định ngai vàng của Hoàng đế nước Nam. Hệ thống triều đình của các vua nước Việt cũng tương tự các triều đình của vua chúa Trung Quốc, các nghi thức và danh phận của các vị quan cũng tương tự như quan lại Trung Quốc. Các vị vua nước Việt đã sử dụng rất nhiều nghi thức, biểu tượng chỉ dành riêng cho vua Trung Quốc như áo long bào màu vàng có rồng 5 móng, giường long sàng, ngôi cửu ngũ, khi chết thì dùng từ "băng hà" và xây lăng có đường hầm dẫn xuống huyệt. Sử dụng các nghi lễ như thờ trời, tế trời ở đàn Nam Giao, được quyền cai quản các thần linh ở nước Việt, có lẽ chỉ ngoại trừ vua Đồng Khánh là vị vua Việt Nam duy nhất chịu làm em của một nữ thần mà thôi. Quyền lực thần quyền của vua Việt không được phép áp đặt lên dân Trung Quốc, ngược lại quyền lực thần quyền của vua chúa Trung Quốc cũng không áp đặt được lên vua quan và dân nước Việt, các quan của triều đình Việt Nam thì chỉ tuân lệnh và trung thành với vua Việt Nam mà thôi. Quan hệ triều cống với Trung Quốc được coi là lựa chọn thay thế duy nhất cho đối đầu, chiến tranh hoặc cấm vận kinh tế. Vì vậy Việt Nam trên danh nghĩa vẫn là một nước chư hầu của Trung Quốc, hầu hết các vị vua Việt Nam lên ngôi đều phải chịu sắc phong của Trung Quốc; hoặc phải để vua Trung Quốc hợp thức hóa vương vị và thần quyền của mình. Một số vua khác chỉ trị vì trên danh nghĩa, quyền lực thực sự lại nằm trong các vị chúa hoặc các đại thần và phe cánh. Hầu hết các vị vua đều được biết bằng miếu hiệu, trong khi các vua nhà Nguyễn được biết bằng niên hiệu. Sau đây là danh sách các vị vua Việt Nam trong thời kỳ phong kiến...

Nhà Hồng Bàng và nước Văn LangCác vị vua, lãnh đạo/ Tên huý/ Năm trị vì.Lục Dương Vương/ Kinh Dương Vương, Hùng Dương hay Lộc Tục
1. Hùng Hiển Vương/ Lạc Long Quân, Hùng Hiền hay Sùng Lãm
2. Hùng Quốc Vương/ Lân Lang Hùng Diệp Vương/ Bảo Lang
3. Hùng Hy Vương/ Viên Lang
4. Hùng Huy Vương/ Pháp Hải Lang
5. Hùng Chiêu Vương/ Lang Liêu Lang
6. Hùng Vi Vương/ Thừa Vân Lang
7. Hùng Định Vương/ Quân Lang
8. Hùng Nghi Vương/ Hùng Hải Lang
9. Hùng Trinh Vương/ Hưng Đức Lang
10. Hùng Vũ Vương/ Đức Hiền Lang
11. Hùng Việt Vương/ Tuấn Lang
12. Hùng Anh Vương/ Chân Nhân Lang
13. Hùng Triệu Vương/ Cảnh Chiêu Lang
14. Hùng Tạo Vương/ Đức Quân Lang
15. Hùng Nghi Vương/ Bảo Quang Lang
16. Hùng Duệ Vương/ Huệ Lang
Nhà Thục và nước Âu Lạc1. An Dương Vương/ Thục Phán/ 257-207 TCNNhà Triệu và nước Nam Việt1. Triệu Vũ Vương/ Triệu Đà/ 207-137 TCN 2. Triệu Văn Vương/ Triệu Hồ/ 137-125 TCN
3. Triệu Minh Vương/ Triệu Anh Tề/ 125-113 TCN
4. Triệu Ai Vương/ Triệu Hưng/ 113-112 TCN
5. Triệu Thuật Dương Vương/ Triệu Kiến Đức/112-111 TCN
Bắc thuộc (111-938)1. Giao Chỉ và nhà Tây Hán/ 111 TCN-39.
2. Nhà Đông Hán/ 25-220
3. Hai Bà Trưng/ Trưng Vương/ Trưng Trắc, Trưng Nhị/ 40-43
4. Nhà Đông Ngô/ 222-280
5. Bà Triệu/ Triệu Thị Trinh/ 248
6. Nhà Tấn/ 265-420
7. Nhà Lưu Tống/ 420-479
8. Nhà Nam Tề/ 479-502
9. Nhà Lương/ 502-541
Nhà Tiền Lý Nước Vạn Xuân độc lập...1. Lý Nam Đế/Lý Bí - Lý Bôn/ 541-548 2. Triệu Việt Vương/ Triệu Quang Phục/ 549-571
3. Hậu Lý Nam Đế/ Lý Phật Tử/ 571-602
4. Mai Hắc Đế/ Mai Thúc Loan/ 722
5. Bố Cái Đại Vương/ Phùng Hưng, Phùng An, Dương Thanh/ 766-820.
Tự chủ (906-938)1. Tĩnh Hải Tiết độ sứ (Tiên chủ)/ Khúc Thừa Dụ/ 906-907
2. Tĩnh Hải Tiết độ sứ (Trung chủ)/ Khúc Hạo (Khúc Thừa Hạo)/ 907-917
3. Tĩnh Hải Tiết độ sứ (Hậu chủ)/ Khúc Thừa Mỹ/ 917-923/930
4. Tĩnh Hải Tiết độ sứ (Dương Chính công)/ Dương Đình Nghệ (Dương Diên Nghệ)/ 931-937
5. Tiết độ sứ/ Kiều Công Tiễn/ 937-938
Các vua nhà Triệu là người Hán, không phải người Việt
Nhà Ngô (939-965)Các vị vua/ Niên hiệu/ Tên huý/ Năm trị vì/ Tuổi thọ.1. Tiền Ngô Vương/ không có/ Ngô Quyền/ 939-944
2. Dương Bình Vương - Dương Tam Kha/ không có/ (Dương Chủ Tướng, Dương Thiệu Hồng)/944-950
3. Hậu Ngô Vương - Ngô Xương Ngập/ không có/ Ngô Xương Văn/ 950-965
Tiếp đến là thời kỳ loạn 12 sứ quân (966-968)
Dương Tam Kha cướp ngôi của nhà Ngô và làm vua trong 6 năm.
Thời Hậu Ngô Vương gồm hai vị vua Nam Tấn Vương và Thiên Sách Vương cùng trị vì.
Nhà Đinh (968-979)1. Đinh Tiên Hoàng/ Thái Bình/ Đinh Bộ Lĩnh (Đinh Hoàn)/968-979/ 56
2. Đinh Phế Đế/ Thái Bình (dùng tiếp niên hiệu cũ)/ Đinh Toàn (Đinh Tuệ)/ 979-980/ 27
Nhà Tiền Lê (980-1009)1. Lê Đại Hành/ Thiên Phúc,Hưng Thống(989-993),Ứng Thiên (994-1005)/ Lê Hoàn/ 980-1005/ 64
2. Lê Trung Tông/ không có/ Lê Long Việt/ 1005 (3 ngày)/ 23
Lê Ngoạ Triều/ Cảnh Thụy (1008-1009)/ Lê Long Đĩnh/ 1005-1009/ 24
Nhà Lý (1010-1225)1. Lý Thái Tổ/ Thuận Thiên/ Lý Công Uẩn/ 1010-1028/ 55
2. Lý Thái Tông/ Thiên Thành(1028-1033), Thông Thụy(1034-1038), Càn Phù Hữu Đạo(1039-1041), Minh Đạo(1042-1043), Thiên Cảm Thánh Võ(1044-1048), Sùng Hưng Đại Bảo(1049-1054)/ Lý Phật Mã/ (1028-1054)/ 55
3. Lý Thánh Tông/ Long Thụy Thái Bình (1054-1058), Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065), Long Chương Thiên Tự (1066-1067), Thiên Huống Bảo Tượng (1060), Thần Võ (1069-1072)/ Lý Nhật Tông/ 1054-1072/ 50
4. Lý Nhân Tông/ Thái Ninh (1072-1075),Anh Võ Chiêu Thắng (1076-1084), Quảng Hữu (1085-1091), Hội Phong (1092-1100), Long Phù (1101-1109), Hội Tường Đại Khánh (1110-1119),Thiên Phù Duệ Võ (1120-1126),Thiên Phù Khánh Thọ (1127)/ Lý Càn Đức/ (1072-1127)/ 63
5. Lý Thần Tông/ Thiên Thuận (1128-1132),Thiên Chương Bảo Tự (1133-1137)/Lý Dương Hoán/ 1128-1138/ 23
6. Lý Anh Tông/ Thiệu Minh (1138-1139), Đại Định (1140-1162), Chính Long Bảo Ứng 1163-1173), Thiên Cảm Chí Bảo (1174-1175)/ Lý Thiên Tộ/ 1138-1175/ 40
7. Lý Cao Tông/ Trinh Phù (1176-1185)/ Thiên Gia Bảo Hữu (1202-1204), Trị Bình Long Ứng (1205-1210)/ Lý Long Trát (Lý Long Cán)/ 1176-1210/ 38
8. Lý Huệ Tông/ Kiến Gia/ Lý Sảm/ 1211-1224/ 33
9. Lý Chiêu Hoàng/ Thiên Chương Hữu Đạo/ Lý Phật Kim (Lý Thiên Hinh)/ 1224-1225/ 60
Nhà Trần (1225-1400)1. Trần Thái Tông/ Kiến Trung (1225-1237), Thiên Ứng Chính Bình (1238-1350), Nguyên Phong (1251-1258)/ Trần Cảnh/ 1225-1258/ 60
2. Trần Thánh Tông/ Thiệu Long (1258-1272), Bảo Phù (1273-1278)/ Trần Hoảng/ 1258-1278/ 51
3. Trần Nhân Tông/ Thiệu Bảo (1279-1284), Trùng Hưng (1285-1293)/ Trầm Khâm/ 1279-1293/ 50
4. Trần Anh Tông/ Hưng Long/ Trần Thuyên/ 1293-1314/ 54
5. Trần Minh Tông/ Đại Khánh (1314-1323), Khai Thái (1324-1329)/ Trần Mạnh/ 1314-1329/ 58
6. Trần Hiến Tông/ Khai Hữu/ Trần Vượng/ 1329-1341/ 23
7. Trần Dụ Tông/ Thiệu Phong (1341-1357), Đại Trị (1358-1369)/ Trần Hạo/ 1341-1369/ 33
8. Hôn Đức Công/ Đại Định/ Dương Nhật Lễ/ 1369-1370 ?
9. Trần Nghệ Tông/ Thiệu Khánh/ Trần Phủ/ 1370-1372/ 74
10. Trần Duệ Tông/ Long Khánh/ Trần Kính/ 1372-1377/ 40
11. Trần Phế Đế/ Xương Phù/ Trần Hiện/ 1377-1388/ 27
12. Trần Thuận Tông/ Quang Thái/ Trần Ngung/ 1388-1398/ 22
13. Trần Thiếu Đế/ Kiến Tân/ Trần Án/ 1398-1400
Nhà Hồ (1400-1407)1. Hồ Quý Ly/ Thánh Nguyên/ Hồ Quý Ly/ 1400
2. Hồ Hán Thương/ Thiệu Thành (1401-1402), Khai Đại (1403-1407)/ Hồ Hán Thương/ 1401-1407
Nhà Hậu Trần (1407-1413)1. Giản Định Đế/ Hưng Khánh/ Trần Ngỗi/ 1407-1409
2. Trùng Quang Đế/ Trùng Quang/ Trần Quý Khoáng/ 1409-1413
Thời thuộc Minh (1407-1427)1. Trần Cảo/ Thiên Khánh/ Trần Cảo/ 1426-1428Nhà Hậu Lê thời Lê sơ (1428-1527)Các vị vua/ Thụy hiệu/ Niên hiệu/ Tên huý/ Năm trị vì/ Tuổi thọ.1. Lê Thái Tổ/ Cao Hoàng Đế/ Thuận Thiên/ Lê Lợi/ 1428-1433/ 49
2. Lê Thái Tông/ Văn Hoàng Đế/Thiệu Bình (1434-1440), Đại Bảo (1440-1442)/ Lê Nguyên Long/ 1433-1442/ 20
3. Lê Nhân Tông/ Tuyên Hoàng Đế/ Đại Hòa,Thái Hòa (1443-1453),Diên Ninh (1454-1459)/ Lê Bang Cơ/ 1442-1459/ 19
4. Lệ Đức Hầu (Lạng Sơn Vương)/ Thiên Hưng (1459-1460), Lê Nghi Dân/ 1459-1460/ 21
5. Lê Thánh Tông/ Thuần Hoàng Đế/ Quang Thuận (1460-1469)/ Hồng Đức (1470-1497)/ Lê Tư Thành (Lê Hạo)/ 1460-1497/ 56
6. Lê Hiến Tông/ Duệ Hoàng Đế/ Cảnh Thống/ Lê Tranh/ 1497-1504/ 44
7. Lê Túc Tông/ Khâm Hoàng Đế/ Thái Trinh/ Lê Thuần/ 6/1504-12/1504/ 17
8. Lê Uy Mục/ Uy Mục Đế/ Đoan Khánh/ Lê Tuấn/ 1505-1509/ 22
9. Lê Tương Dực/ Tương Dực Đế/ Hồng Thuận/ Lê Oanh/ 1510-1516/ 24
10. Lê Chiêu Tông/ Thần Hoàng Đế/ Quang Thiệu (1516-1526)/Lê Y/ 1516-1522/ 26
11. Lê Cung Hoàng/ Cung Hoàng Đế/ Thống Nguyên (1522-1527)/ Lê Xuân/ 1522-1527/ 21
Nhà Hậu Lê thời Lê Trung Hưng (1533-1788)Miếu hiệu/ Niên hiệu/ Tên huý/ Năm trị vì/ Tuổi thọ.Nam Triều - Bắc TriềuTrong thời điểm này nhà Mạc và nhà Hậu Lê tranh giành quyền lực với nhau, nhà Hậu Lê tại miền nam và nhà Mạc tại miền bắc.Nam Triều - Nhà Hậu Lê1. Lê Trang Tông/ Nguyên Hòa / Lê Duy Ninh/ 1533-1548/ 31
2. Lê Trung Tông/ Thuận Bình/ Lê Huyên/ 1548-1556/ 28
3. Lê Anh Tông/ Thiên Hữu (1557), Chính Trị (1558-1571), Hồng Phúc (1572-1573)/ Lê Duy Bang/ 1556-1573/ 42
4. Lê Thế Tông/ Gia Thái (1573-1577), Quang Hưng (1578-1599)/ Lê Duy Đàm/ 1573-1599/ 33
Bắc Triều - Nhà Mạc (1527-1592)1. Mạc Thái Tổ/ Minh Đức/ Mạc Đăng Dung/ 1527-1529/ 59
2. Mạc Thái Tông/ Đại Chính/ Mạc Đăng Doanh/ 1530-1540
3. Mạc Hiến Tông/ Quãng Hòa/ Mạc Phúc Hải/ 1541-1546
4. Mạc Tuyên Tông/ Vĩnh Định (1547),Cảnh Lịch (1548-1553), Quang Bảo (1554-1561)/ Mạc Phúc Nguyên/ 1546-1561
5. Mạc Mậu Hợp/ Thuần Phúc (1562-1565), Sùng Khang (1566-1577), Diên Thành (1578-1585), Đoan Thái (1586-1587), Hưng Trị (1588-1590), Hồng Ninh (1591-1592)/ Mạc Mậu Hợp/ 1562-1592/ 31
6. Mạc Toàn/ Vũ Anh (1592-1592)/ Mạc Toàn/ 1592 ?
Con cháu nhà Mạc rút lên Cao Bằng, tồn tại cho đến năm 1677 mới bị diệt hẳn:
• Mạc Kính Chỉ (1592-1593)
• Mạc Kính Cung (1593-1625)
• Mạc Kính Khoan (1623-1638)
• Mạc Kính Vũ (Mạc Kính Hoàn) (1638-1677)
Trịnh - Nguyễn phân tranhTrong thời kỳ này các vua Lê chỉ trị vì trong danh nghĩa mà thôi. Quyền lực nằm trong tay chúa Trịnh ở Đàng Ngoài (miền bắc) và chúa Nguyễn ở Đàng Trong (miền nam).Vua Lê(1600-1789)Các vị vua/ Niên hiệu/ Tên huý/ Năm trị vì/ Tuổi thọ.1. Lê Kính Tông/Thận Đức (1600), Hoằng Định (1601-1619)/ Lê Duy Tân/ 1600-1619/ 32
2. Lê Thần Tông (lần 1)/ Vĩnh Tộ (1620-1628), Đức Long (1629-1643), Dương Hòa (1635-1643)/ Lê Duy Kỳ/ 1619-1643/ 56
3. Lê Chân Tông/ Phúc Thái/ Lê Duy Hựu/ 1643-1649/ 20
4. Lê Thần Tông (lần 2)/ Khánh Đức (1649-1652), Thịnh Đức (1653-1657), Vĩnh Thọ (1658-1661), Vạn Khánh (1662), Lê Duy Kỳ/ 1649-1662/ 56
5. Lê Huyền Tông/ Cảnh Trị/ Lê Duy Vũ/ 1663-1671/ 18
6. Lê Gia Tông/ Dương Đức (1672-1773), Đức Nguyên (1674-1675)/ Lê Duy Hợi(Lê Duy Cối , Lê Duy Khoái)/ 1672-1675/ 15
7. Lê Hy Tông/ Vĩnh Trị (1678-1680)/ Chính Hòa (1680-1705)/ Lê Duy Hợp/ 1676-1704/ 54
8. Lê Dụ Tông/ Vĩnh Thịnh (1706-1719)/ Bảo Thái (1720-1729)/ Lê Duy Đường/ 1705-1728/ 52
9. Hôn Đức Công/ Vĩnh Khánh/ Lê Duy Phường/ 1729-1732
10.Lê Thuần Tông/ Long Đức/ Lê Duy Tường/ 1732-1735/ 37
11. Lê Ý Tông/ Vĩnh Hữu/ Lê Duy Thìn/ 1735-1740/ 41
12. Lê Hiển Tông/ Cảnh Hưng/ Lê Duy Diêu/ 1740-1786/ 70
13. Lê Mẫn Đế/ Chiêu Thống/ Lê Duy Khiêm (Lê Duy Kỳ)/ 1787-1789/ 28
Chúa Trịnh (1545-1786)Các vị chúa/ Tên huý/ Năm trị vì/ Tuổi thọ.1. Thế Tổ Minh Khang Thái Vương/ Trịnh Kiểm/ 1545-1570/ 68
2. Bình An Vương/ Trịnh Tùng/ 1570-1623/ 74
3. Thanh Đô Vương/ Trịnh Tráng/ 1623-1652/ 81
4. Tây Định Vương/ Trịnh Tạc/ 1653-1682/ 77
5. Định Nam Vương/ Trịnh Căn/ 1682-1709/ 77
6. An Đô Vương/ Trịnh Cương/ 1709-1729/ 44
7. Uy Nam Vương/ Trịnh Giang/ 1729-1740/ 51
8. Minh Đô Vương/ Trịnh Doanh/ 1740-1767/ 48
9. Tĩnh Đô Vương/ Trịnh Sâm/ 1767-1782/ 44
10. Điện Đô Vương/ Trịnh Cán/ 1782 (2 tháng)/ 6
11. Đoan Nam Vương/ Trịnh Khải/ 1782-1786/ 24
12. Án Đô Vương/ Trịnh Bồng/ 1786-1787
Chúa Nguyễn (1600-1802)1. Chúa Tiên/ Nguyễn Hoàng/ 1600-1613/ 89
2. Chúa Sãi hay Chúa Bụt/ Nguyễn Phúc Nguyên/ 1613-1635/ 73
3. Chúa Thượng/ Nguyễn Phúc Lan/ 1635-1648/ 48
4. Chúa Hiền/ Nguyễn Phúc Tần/ 1648-1687/ 68
5. Chúa Nghĩa/ Nguyễn Phúc Trăn/ 1687-1691/ 43
6. Chúa Minh/ Nguyễn Phúc Chu/ 1691-1725/ 51
7. Chúa Ninh/ Nguyễn Phúc Chú/ 1725-1738/ 43
8. Chúa Vũ (Vũ Vương)/ Nguyễn Phúc Khoát/ 1738-1765/ 52
9. Chúa Định (Định Vương)/ Nguyễn Phúc Thuần/ 1765-1777/ 24
10. Nguyễn Ánh/ Nguyễn Phúc Ánh/ 1781-1802/ 59
Nhà Tây Sơn (1778-1802)Các vị vua/ Niên hiệu/ Tên huý/ Năm trị vì/ Tuổi thọ1. Thái Đức Hoàng Đế/ Thái Đức/ Nguyễn Nhạc/ 1778-1793
2. Thái Tổ Vũ Hoàng Đế/ Quang Trung/ Nguyễn Huệ/ 1788-1792/ 40
3. Cảnh Thịnh Hoàng Đế/ Cảnh Thịnh,Bảo Hưng/ Nguyễn Quang Toản/ 1792-1802/ 20
Nhà Nguyễn (1802-1945)Niên hiệu/ Miếu hiệu/ Tên huý/ Năm trị vì/ Tuổi thọ1. Gia Long/ Nguyễn Thế Tổ/ Nguyễn Phúc Ánh/ 1802-1819/ 59
2. Minh Mạng/ Nguyễn Thánh Tổ/ Nguyễn Phúc Đảm/ 1820-1840/ 50
3. Thiệu Trị/ Nguyễn Hiến Tổ/ Nguyễn Phúc Miên Tông/ 1841-1847/ 41
4. Tự Đức/ Nguyễn Dực Tông/ Nguyễn Phúc Hồng Nhậm/ 1848-1883/ 55
5. Dục Đức/ Nguyễn Cung Tông/ Nguyễn Phúc Ưng Ái(Nguyễn Phúc Ưng Chân)/ 1883 (3 ngày)/ 30
6. Hiệp Hoà/ Nguyễn Phúc Hồng Dật/ 6/1883-11/1883/ 36
7. Kiến Phúc/ Nguyễn Giản Tông/ Nguyễn Phúc Ưng Đăng/ 12.1883-8.1884/ 15
8. Hàm Nghi/ Nguyễn Phúc Ưng Lịch/ 8.1884-8.1885/ 64
9. Đồng Khánh/ Nguyễn Cảnh Tông (Nguyễn Phúc Ưng Đường)/ 1885-1888 /25
10. Thành Thái/ Nguyễn Phúc Bửu Lân/ 1889-1907 /74
11. Duy Tân/ Nguyễn Phúc Vĩnh San/ 1907-1916 /46
12. Khải Định/ Nguyễn Hoằng Tông/ Nguyễn Phúc Bửu Đảo/ 1916-1925 /41
13. Bảo Đại/ Nguyễn Phúc Vĩnh Thuỵ/ 1926-1945 /85

Việt Nam năm 1954 - 1975

Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước


Xây dựng miền Bắc và đấu tranh chống Mỹ-Diệm ở miền Nam (1954-1960).

Image
Sau tháng 7-1954, đất nước ta tạm chia làm hai miền. Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục đấu tranh thực hiện nhiệm vụ cách mạng dân tộc, dân chủ, tiến tới thống nhất nước nhà.1. Công cuộc xây dựng miền Bắc (1954-1960)* Tiếp quản Miền Bắc (1954-1955)Trước khi rút quân ra khỏi miền Bắc theo Hiệp định Giơnevơ, thực dân Pháp cùng đế quốc Mỹ tiến hành nhiều hoạt động nhằm chống phá công cuộc xây dựng miền Bắc.
Sau tháng 7-1954, đất nước ta tạm chia làm hai miền. Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, miềnNam tiếp tục đấu tranh thực hiện nhiệm vụ cách mạng dân tộc, dân chủ, tiến tới thống nhất nước nhà.
1.      Công cuộc xây dựng miền Bắc (1954-1960)
* Tiếp quản Miền Bắc (1954-1955)
Trước khi rút quân ra khỏi miền Bắc theo Hiệp định Giơnevơ, thực dân Pháp cùng đế quốc Mỹ tiến hành nhiều hoạt động nhằm chống phá công cuộc xây dựng miền Bắc.
Trong các thành phố, chúng tháo dỡ máy móc chuyển vào Nam, đóng cửa một số nhà máy cửa hàng, lôi kéo lực lượng trí thức, cán bộ kỹ thuật tay nghề cao vào Sài Gòn. Hồ sơ, tài liệu trong các công sở bị thiêu huỷ hoặc chuyển về vùng kiểm soát. Chúng xuyên tạc, dụ dỗ, cưỡng bức gần một triệu đồng bào di cư vào Nam, xúi dục bạo loạn, cài gián điệp ở lại… Cuộc đấu tranh chống địch phá hoại miền Bắc diễn ra khá gay go, trên tất cả các lĩnh vực.
Vì chuẩn bị chu đáo nên ta đã tiếp quản Hà Nội nhanh, gọn, an toàn. Ngày 1-1-1955, hàng vạn nhân dân đã tiến hành cuộc mít tinh chào mừng Trung ương Đảng, Chính phủ và chủ tịch Hồ Chí Minh về thủ đô. Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Tháng 5-1955, quân đội Pháp hoàn toàn rút khỏi miền Bắc.
Ta và địch tiến hành trao trả cho nhau hàng vạn tù binh, 15 vạn chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc. Miền Bắc bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh.
Trong nông nghiệp, ngành kinh tế chủ yếu của miền Bắc, có hơn 1.400.000 hécta đất bị bỏ hoang, hàng chục vạn nông dân không nhà ở, nhiều công trình thủy lợi bị thực dân Pháp tàn phá, hàng chục vạn trâu bò bị giựt...Trong công nghiệp, phần lớn các xí nghiệp máy móc thiếu, hoặc quá lạc hậu. Khai thác mỏ giảm một nửa so với trước chiến tranh. Hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng nói chung bị tàn phá nghiêm trọng. Hàng triệu người miền Bắc mù chữ. Số trường lớp thiếu, tỷ lệ học sinh đến trường thấp. Số kỹ sư và cán bộ kỹ thuật ở lại trong các công sở thuộc Pháp trước đây rất ít. Hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân hầu như không đáng kể. 
Thực trạng trên đòi hỏi phải khẩn trương khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh. Đó là nhiệm vụ trung tâm, nặng nề của nhân dân miền Bắc sau tháng 7- 1954. 
Trong năm 1954 và đầu năm 1955, Trung ương Đảng, Chính phủ và Quốc hội đã ra chiếu chỉ thị, chủ trương khôi phục kinh tế. Kế hoạch khôi phục kinh tế trong 3 năm (1955-1957) là phấn đấu đạt các chỉ tiêu kinh tế trước chiến tranh. 
Nông nghiệp: Thực hiện cải cách ruộng đất trong những năm 1954-1956 không chỉ nhằm thực hiện nhiệm vụ cách mạng dân chủ, chia ruộng đất cho nông dân, mà nó còn có ý nghĩa quyết định trong khôi phục và phái triển kinh tế nông nghiệp.
 Từ đợt 1 đến đợt V, cải cách ruộng đất được tiến hành trong 3653 xã, đã chia khoảng 334.100 ha ruộng đất cho khoảng 2 triệu hộ nông dân không có hoặc thiếu ruộng. Sau cải cách ruộng đất, các tầng lớp nông dân có diện tích canh tác tương đối đồng đều. 
Do nông dân thực sự được quyền sở hữu ruộng đất và do các chính sách khuyến nông như, thủy lơi, phân bón, sức kéo... nền nông nghiệp được phục hồi nhanh chóng. Đến năm 1957, sản lượng lúa của miền Bắc đạt khoảng 4 triệu tấn, tăng hơn 1,5 triệu tấn so với năm 1939. 
Về công nghiệp: Hầu hết các cơ sở sản xuất cũ được khôi phục, hơn 50 cơ sở mới, chủ yếu thuộc ngành sản xuất tiêu dùng được xây dựng. Bên cạnh việc xây dựng cơ sơ sản xuất quốc doanh, khu vực công nghiệp tư nhân. bao gồm các cơ sở sản xuất tư bản tư doanh và tiểu thủ công nghiệp được khuyến khích phát triển sản xuất. 
- Ngành văn hoá giáo dục phát triển khá nhanh. Hệ thống giáo dục từ phổ thông đến đại học được tiêu chuẩn hóa một bước. Năm học 1956-1957, có gần 1 triệu học sinh phổ thông, hơn 600.000 học sinh vỡ lòng, 2984 sinh viên đại  học, gần 8000 học sinh chuyên nghiệp trung cấp. Hơn 1 triệu người được xoá nạn mù chữ.
- Hệ thống y tế, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được nhà nước quan tâm xây dựng. Nếp sống lành mạnh, vệ sinh được vận động thực hiện khắp mọi nơi. Đến năm 1957, miền Bắc có 153 cơ sở điều trị, 108 đội y tế lưu động, khoảng 8000 cán bộ y tế từ bác sĩ đến y tá. Những nạn dịch rất phổ biến ở miền Bắc như đau mắt hột, sốt rét… không còn xuất hiện nhiều như trước nữa.
Tuy nhiên trong buổi đầu xây dựng đất nước không thể tránh khỏi những khuyết điểm hạn chế. Những sai lầm trong khi thực hiện cải cách ruộng đất ảnh hưởng lớn đến tư tưởng quần chúng nhân dân, nhất là tầng lớp tư sản, tiểu tư sản, trí thức. Lực lượng trong và ngoài nước lợi dụng tình hình đó đã đẩy mạnh hoạt động thổ phỉ ở một số vùng miền núi, gây bạo loạn ở một số nơi ở vùng đồng bằng; nhóm Nhân văn giai phẩm ra nhiều ấn phẩm chống lại vai trò lãnh đạo của Đảng.
Đánh giá đúng nguyên nhân của các sự kiện trên, một mặt, Đảng và chính phủ nghiêm khắc sửa chữa sai lầm của mình, mặt khác, tuyên truyền giáo dục, phân hoá những người lầm đường trở về với sự nghiệp chung của dân tộc. Đối với những phần tử đầu sỏ, ngoan cố, nhà nước kiên quyết xử lý theo pháp luật.
Trong ba năm khôi phục kinh tế, nền kinh tế miền Bắc được phục hồi, phát triển với sự hiện diện của nhiều thành phần kinh tế. Trên 10 vạn người thất nghiệp ở Hà Nội, Hải Phòng và các thị xã, thị trấn trên miền Bắc đã có việc làm ổn định. Đời sống nhân dân dần được nâng cao.
Với những thành tựu thu được trong thời kỳ khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá xã hội (1955-1957), miền Bắc đã cơ bản khắc phục được hậu quả của chiến tranh. Đây là thời đoạn lịch sử quá độ chuẩn bị cho miền Bắc bước vào thời kỳ mới.
- Trong thời kì cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958-1960)
Hội nghị lần thứ 14 Ban chấp hành Trung ương Đảng )tháng 11-1958) vạch chủ trương thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế tư bản tư doanh, tiểu thương tiểu chủ, thợ thủ công và nông dân cá thể. Đi đôi với quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa. Hội nghị xác định phải ra sức xây dựng, phát triển thành phần kinh tế quốc doanh.
Trong kế hoạch 3 năm lần thứ hai, nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp có vị trí trọng tâm, quan trọng nhất. Phương hướng cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp là đưa nông dân vào làm ăn tập thể.
Từ quý III năm 1958, một số hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có vị trí trọng tâm, quan trọng nhất. Phương hướng cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp được xây dựng thí điểm. Năm 1959, phong trào phát triển khắp nơi và trở thành cao trào trong năm 1960. Đến cuối năm 1960, có 85,83% tổng sản xuất tập thể
Tư sản dân tộc miền Bắc vốn ít, phần đông kinh doanh thương nghiệp và nhà ở. Họ từng là bạn đồng minh của giai cấp công nhân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Vì vậy với chính sách cải tạo hoà bình, bằng trưng mua, chuộc lại, nên đến năm 1960, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với lực lượng này căn bản đã hoàn thành. Khoảng 3 vạn công nhân trong các cơ sơ sản xuất tư nhân đã trở thành cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước.
 Chủ trương cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với lực lượng tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công là đưa họ vào con đường làm ăn tập thể trong các hợp tác xã thủ công nghiệp, tổ sản xuất thủ công nghiệp, hợp tác xã mua bán. Phần lớn lực lượng tiểu thương được chuyển sang sản xuất nông nghiệp.
 Đồng thời với nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa, công nghiệp quốc doanh được ưu tiên đầu tư xây dựng. Vốn đầu tư năm 1960 ở khu vực công nghiệp quốc doanh tăng 2.6 lần so với năm 1957. Vì vậy, có hàng trăm cơ sở sản xuất mới và tỷ trọng giá trị tổng sản lượng công nghiệp ngày một cao. Tỷ trọng công nghiệp quốc doanh và công ty hợp doanh chiếm 25.6% vào năm 1957 đã lên 58% tổng giá trị sản phẩm công nghiệp vào năm 1960. Tỷ trọng giữa công nghiệp và nông nghiệp năm 1957 là 31,4%/ 68,4% đã tăng lên 42,6%/ 57.4% vào năm 1960. Một số khu công nghiệp được xây dựng như Thượng Đình, Thái Nguyên, Nam Định, Hải Dương, Quảng Ninh, Hải Phòng. Công nghiệp địa phương cũng phát triển khá nhanh, năm 1960 đã tăng 10 lần so với năm 1957. 
Lực lượng lao động trong khu vực kinh tế quốc doanh tăng từ 259.100 người vào năm 1957 lên 477.400 người vào năm 1960. 
Cải tạo xã hội chủ nghĩa đã làm thay đổi căn bản cơ cấu kinh tế-xã hội miền Bắc, đưa thành phần kinh tế toàn dân và tập thể thành vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế quốc dân. 
Văn hóa, giáo dục cũng thu được nhiều thành tựu to lớn. Vào năm học 1959-1960, miền Bắc có 6.300 trường, với 2,5 triệu học sinh, sinh viên, chiếm khoảng 17% dân số. Số học sinh phổ thông ở các cấp I, II, III và số sinh viên đại học tăng từ 2 đến 4 lần so với năm học 1956-1957. Số nữ sinh và học sinh các dân tộc miền núi đến trường ngày càng đông.
Hệ thống y tế chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng phát triển khá nhanh. Số cơ sở điều trị, điều dưỡng, nhà hộ sinh tăng hơn 10 lần so với năm 1956. Các bệnh dịch lây lan với quy mô và phạm vi lớn ở miền Bắc căn bản không còn nữa.
Hệ thống chính trị được củng cố, hoàn thiện. Hiến pháp mới của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã được ban hành ngày 1-1-1960. Cơ quan hành chính các cấp từ trung ương đến cơ sở tuy giảm về số lượng biên chế, nhưng hiệu quả công tác lại được nâng cao hơn trước.
Lực lượng vũ trang cách mạng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Chế độ nghĩa vụ quân sự xác định nhập ngũ bảo vệ tổ quốc là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi công dân. Các sư đoàn chủ lực được trang bị binh khí kỹ thuật mới, tiến dần lên chính quy hiện đại. Bộ đội địa phương, dân quân du kích được tổ chức, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Lực lượng Công an nhân dân được kiện toàn về tổ chức, nghiệp vụ được nâng cao. Đến năm 1960, về căn bản, quân và dân miền Bắc đã tiêu trừ xong lực lượng phỉ và bọn bạo loạn.
Thực hiện kế hoạch 3 năm lần thứ nhất (1955-1957) và 3 năm lần thứ hai 1 (1958-1960) đã làm diện mạo miền Bắc thay đổi.
2.      Đấu tranh chống Mỹ-Ngụy ở miền Nam
* Quá trình áp đặt chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam
  Sau Hiệp định Giơnevơ, Mỹ từng bước thay thế vị trí của Pháp ở miền Nam:Về chính trị, Mỹ đã ép Pháp trao quyền cai trị ở miền Nam cho Ngô Đình Diệm con bài Mỹ đã chuẩn bị từ trước. Từng bước một, Diệm loại lực lượng thân Pháp khói bộ máy hành chính. 
Tháng 3 năm 1956, Mỹ Diệm tổ chức bầu cử Quốc hội ở  miền Nam, lập chế độ việt Nam cộng hòa do Diệm làm Tổng thống. Sự kiện Mỹ Diệm lập quốc gia độc lập dân chủ ở miền Nam là cột mốc đánh dấu Mỹ đã áp đặt xong thể chế chính trị hoàn toàn phụ thuộc Mỹ ở miền Nam.
 Để gây dựng và duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới, Mỹ đã tăng cường viện trợ mọi mặt cho Diệm. Lực lượng cột trụ để bảo vệ "Việt Nam cộng hòa" là quân đội Sài Gòn do Mỹ huấn luyện,chỉ huy. Mỹ nhanh chóng xây dựng 10 sư đoàn cho quân ngụy, với trang bị hiện đại. Sau khi dẹp xong lực lượng Việt quốc,Việt cách ở miền Trung: Diệm quay sang tiêu diệt lực lượng vũ trang của các giáo phái thân Pháp (Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên). Cuộc chiến giữa Diệm với lực lượng thân Pháp bùng nổ tại Sài Gòn và vùng bưng biền Đồng Tháp trong những năm 1954-1955 ở quy mô một cuộc chiến tranh, về thực chất là sự hất cẳng quân sự của chủ nghĩa thực dân kiểu mới đối với Pháp. 
Viện trợ tài chính cho Sài Gòn liên tục được tăng cường song song với sự hiện diện ngày càng nhiều cố vấn quân sự Mỹ. Các căn cứ quân sự hiện đại được xây dựng nhanh chóng. Lối sống Mỹ, văn hóa Mỹ du nhập và truyền bá vào miền Nam. 
Miền Nam có vị trí quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Mục tiêu của Mỹ ở đây là biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự, ngăn chặn "làn sóng đỏ" đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á, chống lại phong trào giải phóng dân tộc đang bùng nổ ở khu vực này.
Khi Mỹ triển khai và đã áp đặt xong chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở miền Nam, thì đối tượng đấu tranh của nhân dân ta không còn là chủ nghĩa thực dân kiểu cũ, mà đã chuyển sang chủ nghĩa thực dân kiểu mới - đế quốc Mỹ, một siêu cường có tiềm lực kinh tế và quân sự khổng lồ, hung hăng, hiếu chiến. Vì vậy, cuộc đấu tranh vì độc lập, thống nhất dân tộc của nhân dân ta chắc chắn sẽ diễn ra ác liệt gấp bội so với thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
Phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam trong những năm 1954-1956
Trong 300 ngày chuyển quân tập kết, cán bộ và chiến sĩ chiến đấu, công tác ở miền Nam rời chiến trường ra Bắc. Chính quyền kháng chiến các cấp giải thể; vùng giải phóng rộng lớn ở miền Trung và Nam Bộ được giao cho đối phương quản lý.
Nhìn trong phạm vi cục bộ, cuộc đấu tranh với Mỹ - Diệm của đồng bào, đồng chí ở lại miền Nam không còn có đủ những ưu thế giống như họ từng có trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp.
Tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng, nhân dân miền Nam đã chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương chuyển hướng chủ đạo chiến lược của Đảng với lực lượng chính trị của mình, đã kiên cường đấu tranh chống kẻ thù đang rắp tâm phá hoại hiệp định Giơnevơ, chống đàn áp, trả tthù những người kháng chiến cũ.
Khẩu hiệu đấu tranh chính, chủ yếu của nhân dân miền Nam trong thời kỳ này là đòi hỏi đối phương phải thả tù chính trị, đòi thực hiện hiệp thương, tổng tuyển cử, thống nhất đất nước như Hiệp Định Giơnevơ đã quy định. Mục tiêu đó đã thu hút hàng triệu quần chúng xuống đường trong các năm từ 1954-1956. Ở Sài Gòn – Gia Định, có những cuộc míttinh, tuần hành lôi cuốn hàng chục vạn đồng bào tham gia. Từ ngày ký hiệp định Giơnevơ cho đến giữa năm 1956, lực lượng nhân dân miền Nam luôn chiếm ưu thế về chính trị.
Tuy mục tiêu đấu tranh đòi hiệp thương Tổng tuyển cử không thực hiện được bởi Mỹ - Diệm ngoan cố chia cắt nước ta, nhưng phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam, của đồng bào đô thị đã thể hiện rằng thống nhất đất nước là nguyện vọng sâu sắc, thiêng liêng của nhân dân cả nước. Với kẻ thù mới, nhân dân miền Nam cần có phương hướng đấu tranh thích hợp để hoàn thành mục tiêu cách mạng của mình.