Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử 7. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử 7. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 30 tháng 12, 2010

Các Vị Chủ Tịch Nước Việt Nam Từ 1946 Đến Nay

  


Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại...
*   Từ 4 tháng 7 năm 1981 đến 22 tháng 9 năm 1992 chức danh này gọi là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.
*   Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu quốc hội.
*  Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.
Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu Chủ tịch nước mới.
Chủ tịch nước hiện nay là Nguyễn Minh Triết.

Nhiệm vụ và quyền hạn

  1. Công bố hiến pháp, luật, pháp lệnh
  2. Thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức vụ chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh
  3. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao
  4. Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ
  5. Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Ủy ban thường vụ Quốc hội, công bố quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, công bố quyết định đại xá
  6. Căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương
  7. Đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về các vấn đề quy định tại điểm 8 và điểm 9, Điều 91 trong thời hạn mười ngày kể từ ngày pháp lệnh hoặc nghị quyết được thông qua; nếu pháp lệnh, nghị quyết đó vẫn được Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí, thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất
  8. Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án, Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao
  9. Quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp cao trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp khác; quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước
  10. Cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam; tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; tiến hành đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với người đứng đầu nước khác; quyết định phê chuẩn hoặc tham gia điều ước quốc tế, trừ trường hợp cần trình Quốc hội quyết định
  11. Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, cho thôi quốc tịch Việt Nam hoặc tước quốc tịch Việt Nam
  12. Quyết định đặc xá

Mối quan hệ với Bộ Chính trị

Những vấn đề thuộc thẩm quyền của Bộ Chính trị, Chủ tịch nước đề xuất hoặc trình.
1- Những vấn đề mà Hội đồng Quốc phòng và An ninh sẽ thảo luận và quyết định liên quan đến tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.
2- Đề xuất những vấn đề thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước liên quan đến việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
3- Những vấn đề mà Chủ tịch nước thấy cần đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét lại trước khi công bố pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội.
4- Phát biểu của Chủ tịch nước với Quốc hội về những vấn đề quan trọng của đất nước để Quốc hội thảo luận và quyết định.
5- Những vấn đề khác Chủ tịch nước thấy cần thiết báo cáo Bộ Chính trị.
(trích Quy định (Bổ sung) số 216-QĐ/TW ngày 01 tháng 4 năm 2009 của Bộ Chính trị)

Danh sách Chủ tịch nước

Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thông qua ngày 9 tháng 11 năm 1946 có quy định về chức vụ Chủ tịch nước:
  • Chính phủ gồm có Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch và Nội các. Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng, có thể có Phó Thủ tướng. (điều 44)
  • Chủ tịch nước chọn Thủ tướng trong quốc hội và đưa ra cho các đại biểu quốc hội biểu quyết (điều 47)
  • Chủ tịch nước có các quyền hạn chính như: thay mặt cho nước; giữ quyền Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc cách chức các tướng soái; ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng, nhân viên Nội các; chủ tọa Hội đồng chính phủ... (điều 49)
Trong hoàn cảnh chiến tranh, Hồ Chí Minh là Chủ tịch nước, đứng đầu Chính phủ, và kiêm nhiệm chức vụ Thủ tướng. Đến năm 1955 chức vụ Thủ tướng được chuyển giao cho Phó Thủ tướng lúc đó là Phạm Văn Đồng đảm nhiệm. Hồ Chí Minh là Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Quốc hội khoá II bầu lại và làm Chủ tịch đến khi ông mất ngày 2 tháng 9 năm 1969. Người kế nhiệm ông ở cương vị này là Tôn Đức Thắng, chính thức từ ngày 22 tháng 9 năm 1969, trước đó là Quyền Chủ tịch nước, cho đến khi đổi tên nước thành Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Sau đây là danh sách các Chủ tịch nước Việt Nam từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập. Tất cả các Chủ tịch nước đều là đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trừ trường hợp đặc biệt là quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng là người không đảng phái.
TênTừĐếnThời gian tại nhiệm
1Hồ Chí Minh2 tháng 9, 19452 tháng 9, 196924 năm, 0 ngày
Huỳnh Thúc Kháng (quyền)31 tháng 5, 194621 tháng 9, 19460 năm, 113 ngày
Tôn Đức Thắng (quyền)3 tháng 9, 196922 tháng 9, 19690 năm, 19 ngày
2Tôn Đức Thắng22 tháng 9, 196930 tháng 3, 198010 năm, 190 ngày
3Nguyễn Hữu Thọ (quyền)30 tháng 3, 19804 tháng 7, 19811 năm, 96 ngày
4Trường Chinh4 tháng 7, 198118 tháng 6, 19875 năm, 349 ngày
5Võ Chí Công18 tháng 6, 198722 tháng 9, 19925 năm, 96 ngày
6Lê Đức Anh23 tháng 9, 199224 tháng 9, 19975 năm, 2 ngày
7Trần Đức Lương24 tháng 9, 199726 tháng 6, 20068 năm, 275 ngày
8Nguyễn Minh Triết27 tháng 6, 2006đương nhiệm4 năm, 187 ngày





















Các Vị Vua Việt Nam Từ Xưa Đến Nay

Các vị vua nước ta từ xưa tới nay!      



 Vua Việt Nam là danh sách các vị vua nước Việt Nam từ khi bắt đầu hình thành nhà nước tới hết thời phong kiến. Do hoàn cảnh lịch sử, vua Việt Nam có thể có những danh hiệu khác nhau, cao nhất là hoàng đế, thấp hơn là "vương", thấp nữa là "công" hoặc "Tiết độ sứ". Sau thời kỳ Bắc thuộc đến triều đại nhà Lý một số vị vua đã xưng hoàng đế, đây là điều thách thức thần quyền đối với các vua Trung Quốc, người vẫn tự xưng là con trời ("thiên tử") vâng mệnh trời ("thiên mệnh") cai trị "thiên hạ". Sau các cuộc tấn công thất bại của nhà Tống, người Hoa đã phải công nhận quyền lực của người Việt ở Thăng Long. Nước Việt được xem như một dạng chư hầu đặc biệt mà Trung Quốc không thể sát nhập bằng vũ lực nhưng ngược lại, người Việt cũng phải công nhận Trung Quốc là một nước lớn, về phương diện ngoại giao phải chịu lép nhường thần quyền con trời, mệnh trời cao hơn cho vua Trung Quốc, tuy vua Việt vẫn có quyền xưng là con trời và vâng mệng trời cai trị con dân nước Việt. Từ đây mô hình chính trị Trung Hoa đã được Việt hóa và phát triển để khẳng định ngai vàng của Hoàng đế nước Nam. Hệ thống triều đình của các vua nước Việt cũng tương tự các triều đình của vua chúa Trung Quốc, các nghi thức và danh phận của các vị quan cũng tương tự như quan lại Trung Quốc. Các vị vua nước Việt đã sử dụng rất nhiều nghi thức, biểu tượng chỉ dành riêng cho vua Trung Quốc như áo long bào màu vàng có rồng 5 móng, giường long sàng, ngôi cửu ngũ, khi chết thì dùng từ "băng hà" và xây lăng có đường hầm dẫn xuống huyệt. Sử dụng các nghi lễ như thờ trời, tế trời ở đàn Nam Giao, được quyền cai quản các thần linh ở nước Việt, có lẽ chỉ ngoại trừ vua Đồng Khánh là vị vua Việt Nam duy nhất chịu làm em của một nữ thần mà thôi. Quyền lực thần quyền của vua Việt không được phép áp đặt lên dân Trung Quốc, ngược lại quyền lực thần quyền của vua chúa Trung Quốc cũng không áp đặt được lên vua quan và dân nước Việt, các quan của triều đình Việt Nam thì chỉ tuân lệnh và trung thành với vua Việt Nam mà thôi. Quan hệ triều cống với Trung Quốc được coi là lựa chọn thay thế duy nhất cho đối đầu, chiến tranh hoặc cấm vận kinh tế. Vì vậy Việt Nam trên danh nghĩa vẫn là một nước chư hầu của Trung Quốc, hầu hết các vị vua Việt Nam lên ngôi đều phải chịu sắc phong của Trung Quốc; hoặc phải để vua Trung Quốc hợp thức hóa vương vị và thần quyền của mình. Một số vua khác chỉ trị vì trên danh nghĩa, quyền lực thực sự lại nằm trong các vị chúa hoặc các đại thần và phe cánh. Hầu hết các vị vua đều được biết bằng miếu hiệu, trong khi các vua nhà Nguyễn được biết bằng niên hiệu. Sau đây là danh sách các vị vua Việt Nam trong thời kỳ phong kiến...

Nhà Hồng Bàng và nước Văn LangCác vị vua, lãnh đạo/ Tên huý/ Năm trị vì.Lục Dương Vương/ Kinh Dương Vương, Hùng Dương hay Lộc Tục
1. Hùng Hiển Vương/ Lạc Long Quân, Hùng Hiền hay Sùng Lãm
2. Hùng Quốc Vương/ Lân Lang Hùng Diệp Vương/ Bảo Lang
3. Hùng Hy Vương/ Viên Lang
4. Hùng Huy Vương/ Pháp Hải Lang
5. Hùng Chiêu Vương/ Lang Liêu Lang
6. Hùng Vi Vương/ Thừa Vân Lang
7. Hùng Định Vương/ Quân Lang
8. Hùng Nghi Vương/ Hùng Hải Lang
9. Hùng Trinh Vương/ Hưng Đức Lang
10. Hùng Vũ Vương/ Đức Hiền Lang
11. Hùng Việt Vương/ Tuấn Lang
12. Hùng Anh Vương/ Chân Nhân Lang
13. Hùng Triệu Vương/ Cảnh Chiêu Lang
14. Hùng Tạo Vương/ Đức Quân Lang
15. Hùng Nghi Vương/ Bảo Quang Lang
16. Hùng Duệ Vương/ Huệ Lang
Nhà Thục và nước Âu Lạc1. An Dương Vương/ Thục Phán/ 257-207 TCNNhà Triệu và nước Nam Việt1. Triệu Vũ Vương/ Triệu Đà/ 207-137 TCN 2. Triệu Văn Vương/ Triệu Hồ/ 137-125 TCN
3. Triệu Minh Vương/ Triệu Anh Tề/ 125-113 TCN
4. Triệu Ai Vương/ Triệu Hưng/ 113-112 TCN
5. Triệu Thuật Dương Vương/ Triệu Kiến Đức/112-111 TCN
Bắc thuộc (111-938)1. Giao Chỉ và nhà Tây Hán/ 111 TCN-39.
2. Nhà Đông Hán/ 25-220
3. Hai Bà Trưng/ Trưng Vương/ Trưng Trắc, Trưng Nhị/ 40-43
4. Nhà Đông Ngô/ 222-280
5. Bà Triệu/ Triệu Thị Trinh/ 248
6. Nhà Tấn/ 265-420
7. Nhà Lưu Tống/ 420-479
8. Nhà Nam Tề/ 479-502
9. Nhà Lương/ 502-541
Nhà Tiền Lý Nước Vạn Xuân độc lập...1. Lý Nam Đế/Lý Bí - Lý Bôn/ 541-548 2. Triệu Việt Vương/ Triệu Quang Phục/ 549-571
3. Hậu Lý Nam Đế/ Lý Phật Tử/ 571-602
4. Mai Hắc Đế/ Mai Thúc Loan/ 722
5. Bố Cái Đại Vương/ Phùng Hưng, Phùng An, Dương Thanh/ 766-820.
Tự chủ (906-938)1. Tĩnh Hải Tiết độ sứ (Tiên chủ)/ Khúc Thừa Dụ/ 906-907
2. Tĩnh Hải Tiết độ sứ (Trung chủ)/ Khúc Hạo (Khúc Thừa Hạo)/ 907-917
3. Tĩnh Hải Tiết độ sứ (Hậu chủ)/ Khúc Thừa Mỹ/ 917-923/930
4. Tĩnh Hải Tiết độ sứ (Dương Chính công)/ Dương Đình Nghệ (Dương Diên Nghệ)/ 931-937
5. Tiết độ sứ/ Kiều Công Tiễn/ 937-938
Các vua nhà Triệu là người Hán, không phải người Việt
Nhà Ngô (939-965)Các vị vua/ Niên hiệu/ Tên huý/ Năm trị vì/ Tuổi thọ.1. Tiền Ngô Vương/ không có/ Ngô Quyền/ 939-944
2. Dương Bình Vương - Dương Tam Kha/ không có/ (Dương Chủ Tướng, Dương Thiệu Hồng)/944-950
3. Hậu Ngô Vương - Ngô Xương Ngập/ không có/ Ngô Xương Văn/ 950-965
Tiếp đến là thời kỳ loạn 12 sứ quân (966-968)
Dương Tam Kha cướp ngôi của nhà Ngô và làm vua trong 6 năm.
Thời Hậu Ngô Vương gồm hai vị vua Nam Tấn Vương và Thiên Sách Vương cùng trị vì.
Nhà Đinh (968-979)1. Đinh Tiên Hoàng/ Thái Bình/ Đinh Bộ Lĩnh (Đinh Hoàn)/968-979/ 56
2. Đinh Phế Đế/ Thái Bình (dùng tiếp niên hiệu cũ)/ Đinh Toàn (Đinh Tuệ)/ 979-980/ 27
Nhà Tiền Lê (980-1009)1. Lê Đại Hành/ Thiên Phúc,Hưng Thống(989-993),Ứng Thiên (994-1005)/ Lê Hoàn/ 980-1005/ 64
2. Lê Trung Tông/ không có/ Lê Long Việt/ 1005 (3 ngày)/ 23
Lê Ngoạ Triều/ Cảnh Thụy (1008-1009)/ Lê Long Đĩnh/ 1005-1009/ 24
Nhà Lý (1010-1225)1. Lý Thái Tổ/ Thuận Thiên/ Lý Công Uẩn/ 1010-1028/ 55
2. Lý Thái Tông/ Thiên Thành(1028-1033), Thông Thụy(1034-1038), Càn Phù Hữu Đạo(1039-1041), Minh Đạo(1042-1043), Thiên Cảm Thánh Võ(1044-1048), Sùng Hưng Đại Bảo(1049-1054)/ Lý Phật Mã/ (1028-1054)/ 55
3. Lý Thánh Tông/ Long Thụy Thái Bình (1054-1058), Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065), Long Chương Thiên Tự (1066-1067), Thiên Huống Bảo Tượng (1060), Thần Võ (1069-1072)/ Lý Nhật Tông/ 1054-1072/ 50
4. Lý Nhân Tông/ Thái Ninh (1072-1075),Anh Võ Chiêu Thắng (1076-1084), Quảng Hữu (1085-1091), Hội Phong (1092-1100), Long Phù (1101-1109), Hội Tường Đại Khánh (1110-1119),Thiên Phù Duệ Võ (1120-1126),Thiên Phù Khánh Thọ (1127)/ Lý Càn Đức/ (1072-1127)/ 63
5. Lý Thần Tông/ Thiên Thuận (1128-1132),Thiên Chương Bảo Tự (1133-1137)/Lý Dương Hoán/ 1128-1138/ 23
6. Lý Anh Tông/ Thiệu Minh (1138-1139), Đại Định (1140-1162), Chính Long Bảo Ứng 1163-1173), Thiên Cảm Chí Bảo (1174-1175)/ Lý Thiên Tộ/ 1138-1175/ 40
7. Lý Cao Tông/ Trinh Phù (1176-1185)/ Thiên Gia Bảo Hữu (1202-1204), Trị Bình Long Ứng (1205-1210)/ Lý Long Trát (Lý Long Cán)/ 1176-1210/ 38
8. Lý Huệ Tông/ Kiến Gia/ Lý Sảm/ 1211-1224/ 33
9. Lý Chiêu Hoàng/ Thiên Chương Hữu Đạo/ Lý Phật Kim (Lý Thiên Hinh)/ 1224-1225/ 60
Nhà Trần (1225-1400)1. Trần Thái Tông/ Kiến Trung (1225-1237), Thiên Ứng Chính Bình (1238-1350), Nguyên Phong (1251-1258)/ Trần Cảnh/ 1225-1258/ 60
2. Trần Thánh Tông/ Thiệu Long (1258-1272), Bảo Phù (1273-1278)/ Trần Hoảng/ 1258-1278/ 51
3. Trần Nhân Tông/ Thiệu Bảo (1279-1284), Trùng Hưng (1285-1293)/ Trầm Khâm/ 1279-1293/ 50
4. Trần Anh Tông/ Hưng Long/ Trần Thuyên/ 1293-1314/ 54
5. Trần Minh Tông/ Đại Khánh (1314-1323), Khai Thái (1324-1329)/ Trần Mạnh/ 1314-1329/ 58
6. Trần Hiến Tông/ Khai Hữu/ Trần Vượng/ 1329-1341/ 23
7. Trần Dụ Tông/ Thiệu Phong (1341-1357), Đại Trị (1358-1369)/ Trần Hạo/ 1341-1369/ 33
8. Hôn Đức Công/ Đại Định/ Dương Nhật Lễ/ 1369-1370 ?
9. Trần Nghệ Tông/ Thiệu Khánh/ Trần Phủ/ 1370-1372/ 74
10. Trần Duệ Tông/ Long Khánh/ Trần Kính/ 1372-1377/ 40
11. Trần Phế Đế/ Xương Phù/ Trần Hiện/ 1377-1388/ 27
12. Trần Thuận Tông/ Quang Thái/ Trần Ngung/ 1388-1398/ 22
13. Trần Thiếu Đế/ Kiến Tân/ Trần Án/ 1398-1400
Nhà Hồ (1400-1407)1. Hồ Quý Ly/ Thánh Nguyên/ Hồ Quý Ly/ 1400
2. Hồ Hán Thương/ Thiệu Thành (1401-1402), Khai Đại (1403-1407)/ Hồ Hán Thương/ 1401-1407
Nhà Hậu Trần (1407-1413)1. Giản Định Đế/ Hưng Khánh/ Trần Ngỗi/ 1407-1409
2. Trùng Quang Đế/ Trùng Quang/ Trần Quý Khoáng/ 1409-1413
Thời thuộc Minh (1407-1427)1. Trần Cảo/ Thiên Khánh/ Trần Cảo/ 1426-1428Nhà Hậu Lê thời Lê sơ (1428-1527)Các vị vua/ Thụy hiệu/ Niên hiệu/ Tên huý/ Năm trị vì/ Tuổi thọ.1. Lê Thái Tổ/ Cao Hoàng Đế/ Thuận Thiên/ Lê Lợi/ 1428-1433/ 49
2. Lê Thái Tông/ Văn Hoàng Đế/Thiệu Bình (1434-1440), Đại Bảo (1440-1442)/ Lê Nguyên Long/ 1433-1442/ 20
3. Lê Nhân Tông/ Tuyên Hoàng Đế/ Đại Hòa,Thái Hòa (1443-1453),Diên Ninh (1454-1459)/ Lê Bang Cơ/ 1442-1459/ 19
4. Lệ Đức Hầu (Lạng Sơn Vương)/ Thiên Hưng (1459-1460), Lê Nghi Dân/ 1459-1460/ 21
5. Lê Thánh Tông/ Thuần Hoàng Đế/ Quang Thuận (1460-1469)/ Hồng Đức (1470-1497)/ Lê Tư Thành (Lê Hạo)/ 1460-1497/ 56
6. Lê Hiến Tông/ Duệ Hoàng Đế/ Cảnh Thống/ Lê Tranh/ 1497-1504/ 44
7. Lê Túc Tông/ Khâm Hoàng Đế/ Thái Trinh/ Lê Thuần/ 6/1504-12/1504/ 17
8. Lê Uy Mục/ Uy Mục Đế/ Đoan Khánh/ Lê Tuấn/ 1505-1509/ 22
9. Lê Tương Dực/ Tương Dực Đế/ Hồng Thuận/ Lê Oanh/ 1510-1516/ 24
10. Lê Chiêu Tông/ Thần Hoàng Đế/ Quang Thiệu (1516-1526)/Lê Y/ 1516-1522/ 26
11. Lê Cung Hoàng/ Cung Hoàng Đế/ Thống Nguyên (1522-1527)/ Lê Xuân/ 1522-1527/ 21
Nhà Hậu Lê thời Lê Trung Hưng (1533-1788)Miếu hiệu/ Niên hiệu/ Tên huý/ Năm trị vì/ Tuổi thọ.Nam Triều - Bắc TriềuTrong thời điểm này nhà Mạc và nhà Hậu Lê tranh giành quyền lực với nhau, nhà Hậu Lê tại miền nam và nhà Mạc tại miền bắc.Nam Triều - Nhà Hậu Lê1. Lê Trang Tông/ Nguyên Hòa / Lê Duy Ninh/ 1533-1548/ 31
2. Lê Trung Tông/ Thuận Bình/ Lê Huyên/ 1548-1556/ 28
3. Lê Anh Tông/ Thiên Hữu (1557), Chính Trị (1558-1571), Hồng Phúc (1572-1573)/ Lê Duy Bang/ 1556-1573/ 42
4. Lê Thế Tông/ Gia Thái (1573-1577), Quang Hưng (1578-1599)/ Lê Duy Đàm/ 1573-1599/ 33
Bắc Triều - Nhà Mạc (1527-1592)1. Mạc Thái Tổ/ Minh Đức/ Mạc Đăng Dung/ 1527-1529/ 59
2. Mạc Thái Tông/ Đại Chính/ Mạc Đăng Doanh/ 1530-1540
3. Mạc Hiến Tông/ Quãng Hòa/ Mạc Phúc Hải/ 1541-1546
4. Mạc Tuyên Tông/ Vĩnh Định (1547),Cảnh Lịch (1548-1553), Quang Bảo (1554-1561)/ Mạc Phúc Nguyên/ 1546-1561
5. Mạc Mậu Hợp/ Thuần Phúc (1562-1565), Sùng Khang (1566-1577), Diên Thành (1578-1585), Đoan Thái (1586-1587), Hưng Trị (1588-1590), Hồng Ninh (1591-1592)/ Mạc Mậu Hợp/ 1562-1592/ 31
6. Mạc Toàn/ Vũ Anh (1592-1592)/ Mạc Toàn/ 1592 ?
Con cháu nhà Mạc rút lên Cao Bằng, tồn tại cho đến năm 1677 mới bị diệt hẳn:
• Mạc Kính Chỉ (1592-1593)
• Mạc Kính Cung (1593-1625)
• Mạc Kính Khoan (1623-1638)
• Mạc Kính Vũ (Mạc Kính Hoàn) (1638-1677)
Trịnh - Nguyễn phân tranhTrong thời kỳ này các vua Lê chỉ trị vì trong danh nghĩa mà thôi. Quyền lực nằm trong tay chúa Trịnh ở Đàng Ngoài (miền bắc) và chúa Nguyễn ở Đàng Trong (miền nam).Vua Lê(1600-1789)Các vị vua/ Niên hiệu/ Tên huý/ Năm trị vì/ Tuổi thọ.1. Lê Kính Tông/Thận Đức (1600), Hoằng Định (1601-1619)/ Lê Duy Tân/ 1600-1619/ 32
2. Lê Thần Tông (lần 1)/ Vĩnh Tộ (1620-1628), Đức Long (1629-1643), Dương Hòa (1635-1643)/ Lê Duy Kỳ/ 1619-1643/ 56
3. Lê Chân Tông/ Phúc Thái/ Lê Duy Hựu/ 1643-1649/ 20
4. Lê Thần Tông (lần 2)/ Khánh Đức (1649-1652), Thịnh Đức (1653-1657), Vĩnh Thọ (1658-1661), Vạn Khánh (1662), Lê Duy Kỳ/ 1649-1662/ 56
5. Lê Huyền Tông/ Cảnh Trị/ Lê Duy Vũ/ 1663-1671/ 18
6. Lê Gia Tông/ Dương Đức (1672-1773), Đức Nguyên (1674-1675)/ Lê Duy Hợi(Lê Duy Cối , Lê Duy Khoái)/ 1672-1675/ 15
7. Lê Hy Tông/ Vĩnh Trị (1678-1680)/ Chính Hòa (1680-1705)/ Lê Duy Hợp/ 1676-1704/ 54
8. Lê Dụ Tông/ Vĩnh Thịnh (1706-1719)/ Bảo Thái (1720-1729)/ Lê Duy Đường/ 1705-1728/ 52
9. Hôn Đức Công/ Vĩnh Khánh/ Lê Duy Phường/ 1729-1732
10.Lê Thuần Tông/ Long Đức/ Lê Duy Tường/ 1732-1735/ 37
11. Lê Ý Tông/ Vĩnh Hữu/ Lê Duy Thìn/ 1735-1740/ 41
12. Lê Hiển Tông/ Cảnh Hưng/ Lê Duy Diêu/ 1740-1786/ 70
13. Lê Mẫn Đế/ Chiêu Thống/ Lê Duy Khiêm (Lê Duy Kỳ)/ 1787-1789/ 28
Chúa Trịnh (1545-1786)Các vị chúa/ Tên huý/ Năm trị vì/ Tuổi thọ.1. Thế Tổ Minh Khang Thái Vương/ Trịnh Kiểm/ 1545-1570/ 68
2. Bình An Vương/ Trịnh Tùng/ 1570-1623/ 74
3. Thanh Đô Vương/ Trịnh Tráng/ 1623-1652/ 81
4. Tây Định Vương/ Trịnh Tạc/ 1653-1682/ 77
5. Định Nam Vương/ Trịnh Căn/ 1682-1709/ 77
6. An Đô Vương/ Trịnh Cương/ 1709-1729/ 44
7. Uy Nam Vương/ Trịnh Giang/ 1729-1740/ 51
8. Minh Đô Vương/ Trịnh Doanh/ 1740-1767/ 48
9. Tĩnh Đô Vương/ Trịnh Sâm/ 1767-1782/ 44
10. Điện Đô Vương/ Trịnh Cán/ 1782 (2 tháng)/ 6
11. Đoan Nam Vương/ Trịnh Khải/ 1782-1786/ 24
12. Án Đô Vương/ Trịnh Bồng/ 1786-1787
Chúa Nguyễn (1600-1802)1. Chúa Tiên/ Nguyễn Hoàng/ 1600-1613/ 89
2. Chúa Sãi hay Chúa Bụt/ Nguyễn Phúc Nguyên/ 1613-1635/ 73
3. Chúa Thượng/ Nguyễn Phúc Lan/ 1635-1648/ 48
4. Chúa Hiền/ Nguyễn Phúc Tần/ 1648-1687/ 68
5. Chúa Nghĩa/ Nguyễn Phúc Trăn/ 1687-1691/ 43
6. Chúa Minh/ Nguyễn Phúc Chu/ 1691-1725/ 51
7. Chúa Ninh/ Nguyễn Phúc Chú/ 1725-1738/ 43
8. Chúa Vũ (Vũ Vương)/ Nguyễn Phúc Khoát/ 1738-1765/ 52
9. Chúa Định (Định Vương)/ Nguyễn Phúc Thuần/ 1765-1777/ 24
10. Nguyễn Ánh/ Nguyễn Phúc Ánh/ 1781-1802/ 59
Nhà Tây Sơn (1778-1802)Các vị vua/ Niên hiệu/ Tên huý/ Năm trị vì/ Tuổi thọ1. Thái Đức Hoàng Đế/ Thái Đức/ Nguyễn Nhạc/ 1778-1793
2. Thái Tổ Vũ Hoàng Đế/ Quang Trung/ Nguyễn Huệ/ 1788-1792/ 40
3. Cảnh Thịnh Hoàng Đế/ Cảnh Thịnh,Bảo Hưng/ Nguyễn Quang Toản/ 1792-1802/ 20
Nhà Nguyễn (1802-1945)Niên hiệu/ Miếu hiệu/ Tên huý/ Năm trị vì/ Tuổi thọ1. Gia Long/ Nguyễn Thế Tổ/ Nguyễn Phúc Ánh/ 1802-1819/ 59
2. Minh Mạng/ Nguyễn Thánh Tổ/ Nguyễn Phúc Đảm/ 1820-1840/ 50
3. Thiệu Trị/ Nguyễn Hiến Tổ/ Nguyễn Phúc Miên Tông/ 1841-1847/ 41
4. Tự Đức/ Nguyễn Dực Tông/ Nguyễn Phúc Hồng Nhậm/ 1848-1883/ 55
5. Dục Đức/ Nguyễn Cung Tông/ Nguyễn Phúc Ưng Ái(Nguyễn Phúc Ưng Chân)/ 1883 (3 ngày)/ 30
6. Hiệp Hoà/ Nguyễn Phúc Hồng Dật/ 6/1883-11/1883/ 36
7. Kiến Phúc/ Nguyễn Giản Tông/ Nguyễn Phúc Ưng Đăng/ 12.1883-8.1884/ 15
8. Hàm Nghi/ Nguyễn Phúc Ưng Lịch/ 8.1884-8.1885/ 64
9. Đồng Khánh/ Nguyễn Cảnh Tông (Nguyễn Phúc Ưng Đường)/ 1885-1888 /25
10. Thành Thái/ Nguyễn Phúc Bửu Lân/ 1889-1907 /74
11. Duy Tân/ Nguyễn Phúc Vĩnh San/ 1907-1916 /46
12. Khải Định/ Nguyễn Hoằng Tông/ Nguyễn Phúc Bửu Đảo/ 1916-1925 /41
13. Bảo Đại/ Nguyễn Phúc Vĩnh Thuỵ/ 1926-1945 /85

Nhà Hậu Lê (1428 - 1789)

Đại Việt thế kỉ XV – Thời Lê SơIn
Image
Đại Việt thế kỉ XV – Thời Lê Sơ
Triều Hậu Lê kéo dài 361 năm (1428 - 1789), được chia làm 2 thời kì : Lê sơ được tình từ khi Lê Lợi lên ngôi( 1428) đến khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi ( 1527), gồm 11 đời vua, trong đó Lê Thái Tổ là người sáng lập, Lê Thánh Tông là người đưa vương triều Lê đến giai đoạn thịnh trị nhất. 
     1. Tình hình chinh trị 
    Bộ máy chính quyền
    Một công việc thiết yếu mà các vua thời Lê sơ đều quan tâm và cố gắng thực hiện là kiện toàn bộ máy nhà nước quân chủ tập trung, mang tính quan liêu chuyên chế. Đến thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497), nó đạt tới đỉnh cao, trở thành một nhà nước toàn trị, cực quyền. Đây là một bước ngoặt lịch sử, một sự chuyển đổi mô hình, từ nền quân chủ quý tộc thời Lý - Trần mang đậm tính Phật giáo màu sắc Đông Nam Á sang một nền quân chủ quan liêu Nho giáo Đông Á.
    Trong thiết chế quân chủ tuyệt đối thời Lê sơ, vai trò của nhà vua đã được đẩy lên rất cao với chủ nghĩa "tôn quân". Theo đó, nhà vua là "con Trời". Người giữ mệnh Trời, thay Trời trị dân ; các ấn tín của vua đều khắc chữ "Thuận thiên thừa vận", "Đại thiên hành hóa". Điện Kính Thiên được xây trong Hoàng thành Thăng Long. Hoàng đế là người chủ tế duy nhất trong các buổi tế lễ (tế Trời, tế Tôn miếu, tế Khổng Tử), là Tổng chỉ huy quân đội (Lê Thánh Tông đích thân cầm quân đi đánh Champa). Thời Lê Thánh Tông, chức Tướng quốc (Tể tướng) đầu triều và một số chức danh đại thần khác đã bị bãi bỏ. Hoàng đế trực tiếp điều khiển triều đình. Quyền lực của các quý tộc tôn thất cũng bị hạn chế, khôngđược lập quân vương hầu, phủ đệ, Lê Thánh Tông bỏ lệ ban Quốc tính. Thời Lê sơ, một số công thần có uy tín và quyền lực cao đã bị nghi kỵ và lần lượt bị giết hại, như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Lê Khả, Lê Sát, Lưu Nhân Chú và Nguyễn Trãi.
    Bộ máy quan liêu hành chính và chuyên môn cũng được kiện toàn từng bước. Năm 1471 , Lê Thánh Tông đã tiến hành một đợt cải cách hành chính lớn (dụ Hiệu định quan chế) nhằm tăng cường sự kiểm soát chỉ đạo của Hoàng đế đối với các triều thần, tăng cường sự ràng buộc, kiểm soát lẫn nhau trong giới quan liêu, tăng cường tính hiệu lực và hiệu quả của bộ máy quan lại.
   Trong triều đình, dưới quyền điều khiển trực tiếp của nhà vua là 6 bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công, đứng đầu là Thượng thư, giúp việc có 2 Thí lang. Bên cạnh đó, còn có Lục khoa với chức năng theo dõi, giám sát và Lục tự với chức năng điều hành. Những cơ quan chuyên môn trong triều gồm có cácđài, các việngiám, sảnh như Ngự sử đài, Hàn lâm viện. Quốc tử giám, Nội thị sảnh ... 
     Về mặt hành chính, trước đó, Lê Thái Tổ chia nước thành 5 đạo. Lê Thánh Tông đã cải tổ lại, chia thành 13 đạo (sau đổi là 13 thừa tuyên), đó là: Lạng Sơn, An Bang, Thái Nguyên, H­ng Hoá, Tuyên Quang, Bắc Giang, Nam Sách, Quốc Oai, Thiên Trường, Thanh Hoá, Nghệ An, Thuận Hóa vù Quảng Nam. Kinh thành Thăng Long thuộc một đơn vị hành chính đặc biệt, gọi là phủ Trung Đô, sau đổi thành phủ Phụng Thiên, bao gồm 2 huyện Vĩnh Xương (sau đổi thành Thọ Xương) và Quảng Đức, từ năm 1430 gọi là Đông Kinh (để phân biệt với Tây Kinh, tức Lam Kinh, Lam Sơn - Thanh Hoá). Dưới đạo thừa tuyên có 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, cùng các đơn vị cơ sở như hương, xã, thôn, trang, sách, động, nguồn, trường. Riêng kinh thành Thăng Long được chia thành 36 phường.
    Đứng đầu các đạo thừa tuyên là các tuyên phủ sứ. Ở mỗi thừa tuyên có 3 ty : Đô ty (phụ trách quân đội) Thừa ty (phụ trách dân sự hành chính) và Hiến ty (phụ trách thành tra giám sát). Các xã được chia thành 3 loại : xã lớn (500 hộ) , xã vừa (trên 300 hộ) và xã nhỏ (trên hộ). Chức xã quan do dân bầu, Nhà nước chỉ đạo và xét duyệt, tiêu chuẩn là các giám sinh, sinh đồ, từ 30 tuổi trở lên và có hạnh kiểm.
    Tổng số quan lại ( từ cấp huyện trở lên) thời Lê Thánh Tông là 5370 người, gồm 2755 quan trong triều và 2615 quan ở các địa phương, đại bộ phận xuất thân từ khoa cử.
    * Quân đội 
     Quân đội thời Lê sơ là một quân đội mạnh, được huấn luyện kỹ, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Sau cuộc kháng chiến chống Minh thắng lợi, Lê Lợi có 35 vạn quân, sau khi cho giải ngũ, còn 10 vạn.
     Quân đội được chia thành cấm binh và ngoại binh. Lê Thái Tổ chia quân thành 5 phiên, Lê Thánh Tông đổi thành 5 phủ (quân khu). Cũng như thời Lý - Trần, nhà Lê đã áp dụng chính sách "ngụ binh ưnông", cho quân lính thay phiên về làm ruộng.
    Theo chế độ tuyển quân, cứ 3 đinh lấy một lính thường trực (tráng hạng) và một lính trù bị (quân hạng). Có các loại quân thủy, bộ, tượng, kỵ. Vũ khí ngoài giáo mác, cung tên, có hỏa pháo và hỏa đồng. Chế độ tập luyện quy củ. Hàng năm, quân sĩ từ Thanh Hóa trở ra tập duyệt ở Kinh đô, từ Thanh Hóa trở vào tập duyệt tại địa phương. Ở phía tây thành Thăng Long, có khu Giảng Võ điện, Giảng Võ đường chuyên huấn luyện tướng sĩ. 
    * Luật pháp 
    Trong việc trị nước, bên cạnh lễ giáo, các vua thời Lê sơ rất chú trọng đến việc chế định pháp luật. Lê Thánh Tông nói: "Pháp luật là phép công của nhà nước, vua cùng quan đều phải theo". Đến thời Hồng Đức, Lê Thánh Tông đã cho ban hành bộ luật thành văn hoàn chỉnh, gồm 722 điều, được gọi làQuốc triều hình luật hay Bộ luật Hồng Đức, sẽ được duy trì và bổ sung ở các thế kỷ sau. Về hình thức, đó là bộ luật hình sự (với khung ngũ hình : suy, trưởng, đồ, lưu, tử), nhưng thực chất là bộ luật tổnghợp, có các điều khoản về điền sản, dân sự, hôn nhân gia đình ... 
    Nội dung cơ bản của Bộ luật là bảo vệ vương quyền, chế độ quan liêu. trật tự đẳng cấp, gia đình phụ hệ gia trưởng và ý thức hệ Nho giáo. Luật quy định 10 trọng tội không thể nhân nhượng được (thập ác) và 8 hạng người có thể miễn giảm tội (bát nghị). 
    Bộ luật mang tính đẳng cấp, có mô phỏng luật Trung Quốc, nhưng nhiều điều khoản đã lưu ý đếnnhững tập quán cổ truyền mang tính đặc hữu dân tộc.
    Quyền lợi của phụ nữ đã được chú trọng trong việc thừa kế gia tài và xét xử ly hôn, được coi là tiến bộ hơn so với luật Trung Quốc đương thời.
    * Củng cố chính quyền dân tộc
     Với lòng tự hào dân tộc, các vua thời Lê sơ đã không ngừng củng cố, phát triển quốc gia dân tộc thống nhất. Lê Thánh Tông nói: "Quyết không để một tấc đất, một thước sông của Thái Tổ lọt vào tay kẻ khác". Các vua Lê đã thi hành một chính sách hòa hoãn nhưng kiên quyết với nhà Minh trong vấn đề biên giới, phát triển lãnh thổ về phía tây và phía nam. Năm 1471, Lê Thánh Tông cất quân đánh Cham pa, chiếm thành Đồ Bàn (Bình Định), lấy vùng đất mới lập thành thừa tuyên Quảng Nam. Các nước trong khu vực (như Xiêm La, Miến Điện) đều đến triều cống.
     Để nắm chắc và khống chế các tù trưởng thiểu số, triều đình nhà Lê đã áp dụng những biện pháp kết hợp trấn áp với phủ dụ (như trường hợp đối với Đèo Cát Hãn, tù trưởng Thái ở Lai Châu). Nhà vua cũng cho điều tra và lập sổ hộ tịch, khảo sát địa hình, lập bản đồ hành chính quốc gia (bản đồ Hồng Đức năm 1469), đề cao, tôn vinh truyền thống dân tộc và các danh nhân lịch sử - văn hoá. Ở thế kỷ XV, Đại Việt đã trở thành một quốc gia có uy thế trong khu vực Đông Nam Á.
      2. Tình hình kinh ­ xã hội
      Nhà nước quân chủ tập trung thời Lê sơ là một nhà nước mạnh và ổn định. Trong sự phục hồi và phát triển kinh tế, Nhà nước đó đã đề cao vai trò chỉ đạo và sự can thiệp của mình vào đời sống kinh tế - xã hội, duy trì sự cân bằng giữa những yếu tố nhà nước và dân gian, công hữu và tư hữu. Thời Lê sơ, nền kinh tế tiểu nông - sản xuất nhỏ làng xã đã được duy trì và khuyến khích, với sự can thiệp và bảo hộ của một Nhà nước thu tô, trọng nông. Nhà nước đó cũng có thái độ dè dặt, không khuyến khích nền kinh tế công thương nghiệp hàng hóa phát triển, nắm độc quyền gian thương với nước ngoài.
    Nông nghiệp
     Ruộng đất thời Lê sơ bao gồm ruộng đất Nhà nước, ruộng công làng xã và ruộng tư.
     Ruộng Nhà nước thường được gọi là quan điền. Có ruộng quốc khố là những ruộng do Nhà nước trực tiếp quản lý và sản xuất, thu hoạch đưa vào kho công. Lộc điền là loại ruộng của Nhà nước ban cấp cho những quan liêu cao cấp (từ tứ phẩm trở lên), gồm có ruộng ban cấp được phép thừa kế (ruộng thê' nghiệp) và ruộng ban cấp tạm thời, có thể thu hồi lại sau khi chết (ruộng ân tứ). Diện tích lộc điền có thể thay đổi từ 40 mẫu (quan tứ phẩm) đến trên 2000 mẫu (các thân vương). Người được cấp chỉ được hưởng hoa lợi, tô thuế, có một số hộ người hầu nhưng không có nông nô và nô tì.
     Lộc điền thời Lê thay thế thái ấp điền trang thời Lý - Trần, nó không tạo điều kiện cho yếu tố cát cứ phát triển. Một số ruộng thế nghiệp của lộc điền có xu hướng trở thành những ruộng tư, người được cấp trở thành quan liêu - địa chủ.
       Đồn điền là loại ruộng do Nhà nước trực tiếp quản lý đứng đầu là các quan chánh, phó đồn điền sứ. Các quân sĩ, tù binh, phạm nhân tội đồ, dân lưu tán được chiêu mộ. Ruộng đất đồn điền phần lớn có nguồn gốc khai hoang hoặc ở các miền biên ải. Năm 1481, Lê Thánh Tông cho lập 43 sở đồn điền. Vùng Bắc Bộ có 30 sở, chung quanh Hà Nội có các sở đồn điền ở Dịch Vọng, Quán La, Thịnh Quang...
     Ruộng làng xã gồm có các loại công điền và tư điền. Thời Lê sơ, tuy ruộng tư đã phát triển, nhưng ruộng công vẫn chiếm uu thế, qua việc thực hiện phép quân điền.
     Chính sách "quân điền" bắt đầu từ thời Lê Thái Tổ. Sau khi kháng chiến thắng lợi, tình hình ruộng đất xáo trộn, nhà vua đã có ý định chia ruộng công cho nhân dân, qua lời phủ dụ : "chiên sĩ thì nghèo, du sĩ thì giàu, người chiến sĩ phải chiến đấu thì không có tấc đất để ở, kẻ du thực vô ích cho nước thì lại có ruộng đất  quá nhiều... Do đó, không có nhười tận tâm với nước mà chỉ lo việc phú quýPhép quân điền được thực hiện hoàn chỉnh dưới thời Lê Thánh Tông.
     Theo đó, ruộng đất công làng xã cứ 6 nam một lần được phân phối lại, dưới sự chỉ đạo của Nhà nước. Quỹ đất theo đơn vị làng xã, có thể điều chỉnh chút ít giữa các xã lân cận. Đối tượng được chia ruộng kể từ các quan tam phẩm (nếu chưa có hoặc có ít lộc điền) được chia 11 phần tới các loại cô nhi, quả phụ được 3 phần. Người cày ruộng phải nộp tô cho Nhà nước (các quan tam, tứ phẩm thì được miễn). Loại công điền quân phân này trên danh nghĩa thuộc quyền sở hữu Nhà nước, do làng xã quản lý và các hộ gia đình sử dụng.
      Chính sách quân điền" thời Lê sơ là một b­ớc trong quá trình phong kiến hóa làng xã, chuyển từ nền kinh tế điền trang quý tộc sang nền kinh tế tiểu nông. Qua đó, Nhà nước đã nắm được làng xã và dân chúng tăng nguồn thu nhập (qua nghĩa vụ tô thuế, lao dịch, binh dịch). mặt khác, phát triển được sản xuất và ổn định được đời sống nhân dân. Đó là một biện pháp tích cực trong chính sách ruộng đất thời Lê sơ, nhưng sau đã dần dần mất tác đụng do nạn chấp chiếm ruộng đất.
     Bên cạnh ruộng công, ruộng tư thời Lê sơ cũng đã phát triển, một số là của địa chủ quan liêu và đại bộ phận là của địa chủ bình dân. Ruộng tư không phải nộp tô cho Nhà nước. Nhà nước thừa nhận nhưng không khuyến khích loại ruộng này. Bộ luật nhà Lê, nhất là chương Điền sản đã nói đến các thủ tục làm văn tự khế ước trong vấn đề bán nhượng, tranh chấp kiện tụng hoặc thừa kế về ruộng đất.
     Sự phát triển của ruộng tư thời Lê sơ phản ánh xu thế phát triển khách quan về ruộng đất trong lịch sử Việt Nam, xác lập quan hệ sản xuất phong kiến phổ biến địa chủ - tá điền trong xã hội. Tuy nhiên, đây là một quá trình tư hữu hóa không tự nhiên, không được Nhà nước khuyến khích, nên đã dẫn đếnnhững tệ nạn như chiếm công vi tư, chấp chiếm ruộng đất... dần dần đi tới tình trạng khủng hoảng ruộng đất.
    Nhà nước Lê sơ là một Nhà nước trọng nông, đã đề ra nhiều biện pháp để khuyến khích và phát triển nông nghiệp.Việc chăm sóc, đào đắp kênh đê rất được chú trọng. đặt ra các chức quan Khuyến nông và Hà đê. Khi khẩn cấp đã huy động cả học sinh Quốc Tử Giám trong việc hộ đê. Ở Nam Định, có nhiều đoạn đê ngăn nước mặn còn mang lên là đê Hồng Đức", cũng như ở Thanh Hoá, nhiều sông đào, được gọi là sông nhà Lê". Để bảo đảm sản xuất, các vua Lê đã cho thi hành chính sách "ngụ binh ư nông", cho quân đội thay phiên về làm ruộng, theo tinh thần tĩnh vi nông. động vi binh". Luật pháp nghiêm cấm việc giết trâu, bò sống để bảo vệ sức kéo. Khi huy động công việc lao dịch, các quan sở tại phải tránh thời vụ, để không làm kinh động sức dân.
     Quan điểm trọng nông là một chính sách truyền thống của các vương triều phong kiến Việt Nam. Nó cũng xuất phát từ nguyên lý trọng bản, ức mạt của Nho giáo. Vì vậy, thời Lê sơ, quan điểm trọng nông bắt đầu đi kèm với quan điểm ức thương.
   * Thủ công nghiệp
      Nhà nước Lê sơ một mặt dung dưỡng nền sản xuất nhỏ thủ công nghiệp trong các làng xã, mặt khác đẩy manh hoạt động của các quan xưởng thuộc thủ công nghiệp Nhà nước. Ở nông thôn, đã xuất hiện nhiều làng chuyên nghề như Bát Tràng (gốm sứ), Huê Cầu (nhuộm thâm). Ớ kinh thành Thăng Long, Dư địa chí  ghi lại một số phường chuyên nghề nổi tiếng như Tàng Kiếm làm kiệu, áo giáp, Yên Thái làm giấy, Nghi Tàm và Thuỵ Chương dệt vải lụa, Hà Tân nung vôi, Hàng Đào nhuộm điều, Tả Nhất làm quạt, Đường Nhân bán áo diệp y.
      Các quan xưởng hay Cục bách tác là những xưởng thủ công do Nhà nước trực tiếp quản lý và điều hành sản xuất, phục vụ cho nhu cầu của quan liêu, quân sĩ và dân chúng như các xưởng đúc tiền, chế tạo vũ khí, đóng thuyền, sản xuất các đồ dùng nghi lễ, phẩm phục.
    Trong các quan xưởng, Nhà nước áp dụng chính sách "công tượng". Các thợ khéo bị trưng lập theo nghĩa vụ lao dịch, được phiên chế thành đội ngũ như binh lính, phải cưỡng bức lao động dưới sự đôn đốc của các giám đương và chủ ty. Đó là một nền sản xuất bao cấp, không tiếp cận với thị trường trao đổi buôn bán.
    * Thương nghiệp
     Hoạt động thương nghiệp chủ yếu ở thời Lê sơ là nền buôn bán nhỏ thông qua mạng lưới chợ ở nông thôn và thành thị. Nhà Lê đã ban hành lệ lập chợ, khẳng định “trong dân gian hễ có dân là có chợ, để lưu thông hàng hoá”, quy định nguyên tắc họp chợ luân phiên. Ở Thăng Long - Đông Kinh, các thương nhân từ các nơi về, đua nhau mở hàng quán phố xá buôn bán. Lúc đầu, chính quyền địa phương định đuổi họ về nguyên quán, sau theo đề nghị của Quách Đình Bảo đã đồng ý cho họ ở lại sinh nhai, để cho hàng hóa lưu thông và nhà nước cũng có được khoản thu từ thuế (1481).
    Thời Lê sơ, Nhà nước bỏ lệ tiêu tiền giấy của nhà Hồ, cho lưu thông tiền đồng. Lê Lợi nói :"Tiền là huyết mạch của dân, không thể không có”. Nhà nước quy định 1 quan là 10 tiền, 1 tiền là 60 đồng, tức 1 quan = 600 đồng.
    Riêng việc buôn bán với nước ngoài, Nhà nước đã kiểm soát nghiêm ngặt các cáng khẩu, như Vân Đồn, Vạn Ninh, (Quảng Ninh), Càn Hải, Hội Thống (Nghệ An), cấm dân chúng tự tiện buôn bán trao đổi hàng hóa với các tàu buôn ngoại quốc, thi hành chính sách bế quan toả cảng".
    * Kết cấu  xã hội
    Xã hội Đại Việt thời Lê sơ là một xã hội tương đối ổn định và phát triển, đồng thời là một xã hội mang tính đẳng cấp đã chín muồi. Có hai đẳng cấp chính: quan liêu và thứ dân (chia thành 4 tầng lớp: sĩ. nông, công, thương). Thời Lê sơ các quan hệ giai cấp (địa chủ phong kiến và nông dân) đã đan chen vào các quan hệ đẳng cấp.
    Quan liêu là đẳng cấp cầm quyền, cai trị, đồng thời cũng được coi là tầng lớp ưu tú của xã hội, yêu nuôi và giáo hóa dân chúng. Đội ngũ quan chức thời Lê sơ là những tri thức Nho sĩ được tuyển lựa kỹ lưỡng (chủ yếu qua khoa cử), được rèn luyện và kiểm soát chặt chẽ (bởi nhà vua, các quy chế, bộ Lại và chế độ khảo khóa). Đó cũng là đẳng cấp có nhiều đặc quyền, ưu đãi trong các tiêu chuẩn sinh hoạt (nhà cửa, quần áo, võng lọng), được ban cấp đất ở, ruộng lộc điền, lương bổng.
  Đầu thời Lê sơ, các công thần chủ yếu là quan võ (tham gia từ đầu cuộc khởi nghĩa), sau dần dần chuyển sang các quan văn (những người đỗ đại khoa). Với việc mở rộng khoa cử, các Nho sĩ trí thức bình dân đã có điều kiện tham gia chính quyền, tạo nên sự bình đẳng tiến thân, thoáng rộng hơn so với thời Lý - Trần. Tuy nhiên, quan lại lúc này cũng bị kiểm soát ràng buộc nghiêm ngặt bởi các lễ thức, quy phạm Nho giáo, do vậy, đã mang nhiều tính chuyên chế và quan liêu hơn.
 Đẳng cấp thứ dân (bách tính) là giai tầng xã hội bì cai trị, bao gồm 4 tầng lớp chính : sĩ, nông, công, thương. Nho sĩ thời Lê sơ là cầu nối giữa bình dân và quan liêu. Nông dân là tầng lớp xã hội đông đảo nhất, đã phân hóa thành nhiều bộ phận: địa chủ bình dân, nông dân tự canh, tá điền. Một số cường hào có thể đã xuất hiện trong làng xã. Địa chủ bình dân cùng với địa chủ quan liêu đã hợp thành giai cấpphong kiến. Thợ thủ công gồm một số công tượng và chủ yếu là thợ thủ công trong làng xã. Do quan điểm "ức thương", thương nhân là tầng lớp xã hội bị coi rẻ hơn cả, bị gán cho những tính cách "phi nghĩa", "bất nhân".
     3. Tình hình tư  tưởng văn hóa 
    Nhìn chung, thời Lê sơ, văn hóa Đại Việt đã chuyển sang sự ưu thắng của văn hóa Đông Á, Nho học- Nho giáo.
    Đây là thời kỳ diễn ra một sự phân dòng văn hóa. Dòng văn hóa dân gian làng xã không được nhà nước khuyến khích, đã tách khỏi dòng văn hóa cung đình. Sự phân dòng văn hóa này đã phản ánh sự phân tầng đẳng cấp ngoài xã hội.
    Tuy nhiên, trên thực tế, các yếu tố văn hóa khác biệt nhau vẫn cùng tồn tại, chung sống hòa bình, như giữa Nho và Phật, Đạo, giữa văn hóa chính thống và văn hóa dân gian. Mô hình ý thức hệ đã phải nhân nhượng với thực trạng văn hóa.
     * Tôn giáo, tư  tưởng
     Các nhà vua thời Lê sơ đã từ bỏ chính sách khoan dung Tam giáo đồng nguyên của nhà nước thời Lý- Trần để chuyển sang một chính sách văn hóa đơn nguyên quan phương, độc tôn Nho giáo và Nho học. Ở đây, Tống Nho đã được đề cao như một hệ tư tưưởng chính thống nhà nước, làm bệ đỡ tư tưởng cho chế độ quân chủ quan liêu. Khẩu hiệu chiến lược "Sùng Nho trọng Đạo là việc hàng đầu”(Bia Văn Miếu - 1442) đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Văn Miếu - Quốc Tử Giám được mở rộng, giáo dục khoa cử Nho học được kiện toàn. Lê Thánh Tông còn cho ban bố trong nhân dân "24 điều giáo huấn" để củng cố những nguyên tắc cơ bản về đạo đức và lễ giáo Nho giáo. Chính ông đã nói: "Tất cả đều do cái mũ của nhà Nho mà ra". Ngô  Liên khẳng định "vua tôi, cha con, vợ chồng là 3 cương lớn trong đạo luân lý của người, ngoài ra không có gì lớn hơn".
   Nho giáo thời Lê sơ cũng dần dần chuyển hóa. Thời kỳ đầu, khái niệm "nhân" đã được nhấn mạnh. Nguyễn Trãi nói: "Người làm vua phải để lòng nơi nhân nghĩa, coi nhân nghĩa là chỗ đứng của mình". Giai đoạn sau, trọng tâm của Nho giáo là được chuyển qua khái niệm "lễ", mang tính giáo điều bảo thủ. Lê Thánh Tông nhấn mạnh: "Người khác cầm thú là vì có Lễ để làm khuôn phép giữ gìn".
    Đề cao Nho giáo, các vua Lê sơ đã hạn chế, kiểm soát những tôn giáo phi chính thống như Phật và Đạo, lấy cớ là "sợ lòng người lay động, phân tán". Lê Thái Tổ quy định sư tăng phải trên 50 tuổi, phải qua kỳ thi khảo hạnh, nếu trượt phải hoàn tục. Triều đình Lê sơ đã cấm quý tộc quan lại xây chùa mới, hạn chế việc đi lại của sư ­ tăng, đạo sĩ (Điều 301 Luật Hồng Đức), cấm quan liêu trong triều kết giao với tăng, đạo. Trong Thập giới cô hồn quốc ngữ văn, Lê Thánh Tông đã phê phán giới thiền tăng.
Nói những thiên đường cùng địa ngụ
Pháp saochẳng độ được mình ta?

    Ngô  Liên mạnh mẽ đả kích : "Người nào đã học Nho giáo mà lại học thêm Phật giáo và Đạo giáo... thì có ích gì cho thế đạo, cho nước nhà. Lấy những người ấy đỗ mà làm gì?.
     Không được Nhà nước khuyến khích nhưng Phật, Đạo thời Lê sơ vẫn tồn tại trong xã hội, được mọi giới thừa nhận nhất là quần chúng nhân dân. Lê Sát cho xây chùa Thanh Đàm, Chiêu Độ rộng 90 gian. Chùa Báo Thiên ở kinh thành vẫn được mở rộng, rước tượng Phật từ chùa Pháp Vân về để cầu đảo Nho sĩ Lương Thế Vinh đã soạn sách Phật (Thiền môn khoa giáo), soạn bia chùa Diên Hựu. Bản thân nhà vua sùng Nho Lê Thánh Tông vẫn đi thăm viếng nhiều chùa chiền, cho dựng lầu "Vọng Tiên" và thừa nhận: "Giáo lý Phật Lão hết thảy đều mê đời lừa dân, che lấp nhân nghĩa, cái hại của nó không kể xiết mà lòng người vẫn rất ham rất tin. Đạo của Thánh hiền [Nho giáo]... đều thiên dụng trong cuộc sống thường ngày, mà lòng ham thích của người ta lại chẳng bằng Phật, Lão". Các đền thờ thần linh, các danh nhân lịch sử văn hóa và các hội lễ vẫn được xây dựng, tổ chức ở khắp nơi. Chính sách "độc tôn Nho học" của nhà nước Lê sơ, trên thực tế, đã không được thi hành một cách có hiệu quả.
  * Giáo dục, khoa cử
  Giáo dục, khoa cử thời Lê sơ phát triển, trước hết do đường lối "sùng Nho", của các nhà vua thời kỳ này, đồng thời cũng là để đáp ứng nhu cầu ngày một tăng về đào tạo nhân tài, quan liêu cho chế độ. Lê Thái Tông khẳng định: "Muốn có được nhân tài, trước hết phải chọn lựa kẻ sĩ, mà kén chọn kẻ sĩ, phải lấy thi cử làm đầu...".
   Các vua thời Lê sơ đều đã cho sửa sang tu bổ Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Đợt trùng tu mở rộng lớn nhất là vào năm 1483, đời Lê Thánh Tông. Nhà vua đã cho dựng ở Văn Miếu các công trình Đại Thành môn, nhà Giải vũ Đông Tây, điện Canh Phục, kho Tế khí, nhà bia Tiến sĩ (năm 1484, cho dựng 10 bia, kể từ khoa 1442). Đối với Quốc Tử Giám, cho dựng nhà Minh Luân, giảng đường Đông Tây, kho Bí thư, nhà nghỉ cho giám sinh. Về tổ chức, Nhà nước đặt các chức Tế tửu và Tư nghiệp Quốc Tử Giám (như Tế tửu Lý Tử Tấn và Tư nghiệp Ngô  Liên). Hệ thống giảng dạy có giáo thụ, trực giảng, trợ giáo và bác sĩ.
  Quốc Tử Giám đời Lê sơ đã mở rộng đối tượng tuyển sinh và học tập, nhiều con em học giỏi xuất thân từ các gia đình bình dân cũng được tham gia học tập. Giám sinh (xá sinh) thời Lê được chia làm 3 loại (thượng, trung, hạ) được cấp học bổng và học phẩm.
  Ở các địa phương, hệ thống trường học có đến cấp phủ huyện, các lớp học có đến cấp xã.
  Khoa cử cũng rất phát triển dưới thời Lê sơ. Ngay từ năm 1426, khi cuộc kháng chiến chưa thành công, Lê Lợi đã cho tổ chức khoa thi ở trạm Bồ Đề, bên kia sông Hồng. Sau khi lên ngôi, ông cũng đã cho tổ chức các kỳ thi Minh kinh và Hoành từ. Năm 1438, định phép thi hương ở các đạo. Năm 1442 (Nhâm Tuất, Đại Bảo năm thứ 3 đời Lê Thái Tông), tổ chức thi Hội, lấy 33 tiến sĩ (trong đó 3 người đỗ đầu là Nguyễn Trực, Nguyễn Như Đổ, Lương Như Hộc). Ngô  Liên cũng đỗ khoa này. Đến thời Lê Thánh Tông, khoa cử đạt tới đỉnh cao. Trong 39 năm, đã tổ chức 12 khoa thi Hội lấy 501 tiến sĩ (toàn thời Lê sơ, có 29 khoa thi quốc gia, lấy 988 tiến sĩ).
  Thời Lê sơ, quy chế thi cử cũng được kiện toàn. Có 2 cấp thi: thi địa phương (thi Hương) và thi quốc gia (thi Hội, thi Đình). Học vị thi Hương là Hương cống, học vị thi Hội và thi Đình là Tiên sĩ với 3 cấp: Tiến sĩ cập đệ (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa), Tiến sĩ xuất thân và đồng Tiến sĩ xuất thân. Các bài thi cũng được ấn định. Mỗi khoa thi gồm có 4 trường, lần lượt là: Kinh nghĩa, chiếu chế biểu, thơ phú, văn sách.
  Nhà nước Lê sơ đã thi hành chính sách trọng sĩ, trong các lễ xướng danh, ban mũ áo, thiết yến tiệc, vinh quy. Mọi tiến sĩ đều được khắc tên vào bia đá đặt ở Văn Miếu.
  Nền giáo dục, khoa cử thời Lê sơ mang tính thế tục. phổ cập và bình đẳng, nó đã trí thức hóa tầng lớp quan liêu. Phan Huy Chú nhận xét: "Khoa cử các đời thịnh nhất là đời Hồng ĐứcCách lấy đỗ rộngrãi, cách chọn người công bằng, đời sau càng không thể theo kịp". Tuy nhiên dần đần, nền giáo dục đó đã trở nên chật hẹp, bị hệ tư tưởng hóa quá mức, quan liêu hóa tầng lớp trí thức, như bia Văn Miếu nhận xét: “cái thực chưa xứng với cái danh".
  Văn học và sử học
  Có 2 khuynh hướng văn thơ nổi trội dưới thời Lê sơ : văn thơ yêu nước dân tộc và văn thơ cung đình.
  Theo đà dòng văn học yêu nước thời Lý - Trần, được tiếp sức thêm bởi cảm hứng qua những chiến công của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nhiều tác phẩm văn thơ đã nói lên ý chí bất khuất và lòng tự hào về một quốc gia - dân tộc có bề dày lịch sử - văn hóa. Nguyễn Trãi với Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Lý Tử Tấn với Chí Linh sơn phú, Xương Giang phú, Nguyễn Mộng Tuân với Lam Sơn phú, Hậu Bạch Đằng giang phú, Lê Thánh Tông với các bài thơ ca tụng các nhân vật lịch sử - văn hóa và các danh lam thắng cảnh đất nước. Theo phương hướng tìm về cội nguồn dân tộc Vũ Quỳnh và Kiều Phú đã hiệu đính Lĩnh Nam thích quái, một tác phẩm dã sử truyền thuyết từ thời Trần. Tinh thần dân tộc còn biểu hiện ở việc phổ biến dùng chữ Nôm, với các tác giả Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông và tác phẩm Hồng Đức Quốc âm thi tập.
  Bên cạnh đó, dòng văn học cung đình với nội dung hình thức thù phụng, thanh lệ cũng phát triển. Bùi Huy Bích nhận định: "Thời Hồng Đức gọi là cực thịnh nhưng lúc đó văn chương ưa chuộng thanh lệ(khuôn sáo hình thức)". Điển hình là hội Tao Đàn (nhị thập bát tú) do Lê Thánh Tông làm chủ soái, cùng các văn thần như Đỗ Nhuận, Thân Nhân Trung, Lương Thế Vinh. Tác phẩm chính của hội này là tậpQuỳnh uyển cửu ca, với những bài thơ xướng họa tán tụng, với chủ đề khuôn sáo là "Minh quân, lương thần" (vua sáng, tôi hiền). Dòng văn học cung đình đã thể hiện rõ quan điểm giáo huấn "Văn dĩ tải đạo", yếu tố trữ tình, cá nhân đã vắng mặt trong đó.
  Để phục vụ cho việc xây dựng chế độ phong kiến nhà nước quan liêu và thể hiện tinh thần dân tộc, "sánh ngang Nam - Bắc", các tác phẩm lịch sử, địa lý thời Lê sơ khá phong phú. Đó là các tác phẩmLam Sơn thực lục của Nguyễn Trãi, bộ điển chế đồ sộ Thiên Nam dư hạ tập 100 quyển (đã thất truyền, chỉ còn lại 4- 5 quyển).
  Đặc biệt, bộ chính sử Đại Việt sử ký toàn thư của các sử thần nhà Lê (Phan Phu Tiên, Ngô  Liên, Vũ Quỳnh), phát triển từ bộ sử gốc Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu trước đó, là một tác phẩm quý giá. Ở đây, lần đầu tiên, Ngô  Liên đã đưa truyền thuyết Hùng Vương - An Dương Vương vào chính sử dân tộc.
  Về địa lý, đáng kể là cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi và tập bản đồ hành chính quốc gia soạn dưới thời Lê Thánh Tông, th­ường gọi là Hồng Đức bản đồ vẽ chi tiết 13 thừa tuyên và các phủ huyện. Các tác phẩm địa lý này cũng đã được bổ sung ở những thời kỳ sau.
  * Nghệ thuật 
 Nhìn chung, khuynh hướng cung đình, quan phương trong nghệ thuật thời Lê sơ đã thắng thế, do ảnh hưởng của văn hóa Đông Á Nho giáo, mang tính giáo điều, công thức. Qua cuộc tranh luận giữa Lương Đăng và Nguyễn Trãi, Nhà nước đã chấp nhận nhã nhạc (mô phỏng nhạc Trung Quốc) như thứ nhạc chính thống được diễn tấu trong cung đình. Hình tượng con rồng thời Lê trong điêu khắc cũng dữ tợn, oai nghiêm hơn, không thanh thoát như hình tượng con rồng giun uốn lượn thời Lý- Trần.
  Thời kỳ này, văn hóa dân gian bị hạ thấp, thậm chí bị miệt thị. Năm 1448, điệu múa dân gian  liên(rí ren) bị coi là dâm tục, nhảm nhí và bị cấm. Năm 1462, cấm các con nhà phường chèo không được đi thi, mà nạn nhân gần 2 thế kỷ sau đó là nhà văn hóa lớn Đào Duy Từ.
  * Về kiến trúc, điêu khắc:
 Hoàng thành Thăng Long được tu sửa, mở rộng vào cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, với nhiều cung điện nguy nga. Điện Kính Thiên ở trung tâm Hoàng thành đã được xây dựng (ngày nay chỉ còn lại đôi lan can rồng đá). Ở quê hương Lê Lợi, Lam Kinh cũng đã được xây dựng quy mô đồ sộ với hệ thống lăng mộ và tấm bia Vĩnh Lăng nổi tiếng.
  * Về nghệ thuật biểu diễn, điệu múa rất phổ biến là Bình Ngô phá trận, ca ngợi các chiến tích của nghĩa quân Lam Sơn. Lương Thế Vinh soạn  phường phả Ic nói về nghệ thuật ca múa.
  * Về khoa học kỹ thuật, Phan Phu Tiên có cuốn Bản thảo thực vật toản yếu, Lương Thế Vinh soạnĐại thành toán pháp  Hữu (cha Vũ Quỳnh) soạn Lập thành toán pháp, tính toán rất chính xác trong việc thiết kế xây dựng, tu sửa hai cửa Hoàng thành Thăng Long : Đại Hưng (Cửa Nam) và Đông Hoa (Cửa Đông).
    Hình thành từ những thế kỷ trước, muộn nhất là vào thời nhà Lý, chế độ phong kiến Đại Việt- thuộc loại hình phong kiến nhà nước quan liêu đã được xác lập vững chắc vào thế kỷ XV, dưới triều Lê sơ.
    Thời Lý, Trần trên danh nghĩa, Nhà nước Đại Việt đã chấp nhận một mô hình phong kiến thời Đường- Tống, và ở một mức độ hạn chế, hệ tư tưởng phong kiến Khổng giáo. Tuy nhiên, ngay cả ở mặt thiết chế hệ tư tưởng này, ảnh hưởng Phật giáo vẫn còn rất đậm, các yếu tố phong kiến còn khá mờ nhạt. Mặt khác, thực thể kinh tế - xã hội còn mang nhiều yếu tố cổ tuyền trước phong kiến. Nhà nước chưa nắm chắc một cách trực tiếp người nông dân tự canh, tầng lớp địa chủ phong kiến tư hữu chưa phát triển, sự phân hóa đẳng cấp trong xã hội và nhất là trong làng xã chưa thực sự gay gắt. Một xã hội phong kiến đích thực chưa tồn tại, hoặc nói khác đi, chế độ phong kiến nhà nước quan liêu Đại Việt còn ở giai đoạn tiền mô hình, duy trì một khoảng cách khá lớn giữa danh và thực.
    Triều Lê sơ thành lập, có thể được coi như một bước ngoặt lịch sử, trong những điều kiện thuận lợi cho những yếu tố phong kiến phát triển. Thiết chế - ý thức hệ phong kiến mà nhà Minh áp đặt trong hai thập kỷ thuộc Minh đã để lại những hệ quả sâu sắc. Các nhà vua thời Lê sơ do tinh thần tự hào dân tộc, quan điểm "vô tốn Hoa Hạ", “sánh ngang Nam - Bắc" cùng đã tự nguyện chấp nhận một mô hình phong kiến Nho giáo Đông Á, như một bệ đỡ tư tưởng cho thiết chế quân chủ tập quyền. Ở đây, một nhà nước chuyên chế toàn năng, can thiệp vào mọi mặt đời sống xã hội, đã được xác lập. Đẳng cấp quan liêu được tuyển lựa qua khoa cử, đã trở thành lực lượng thống trị, ngày càng xa cách khối quần chúng bình dân làng xã. Trên danh nghĩa, Nho giáo được coi như một hệ tư tưởng phong kiếnchính thống độc tôn. Thiết chế - hệ tư tưởng phong kiến đến giai đoạn này, đã được hoàn chỉnh.
  Những chuyển biến về kinh tế - xã hội thời Lê sơ cũng ngày càng ngả sang màu sắc phong kiến. Những quan hệ sản xuất phong kiến trong kinh tế nông nghiệp được thể hiện ở hai mặt. Người nông dân tự canh trong làng xã ngày càng bị lệ thuộc và ràng buộc vào một Nhà nước phong kiến thu tô, qua phép quân điền, những nghĩa vụ tô thuế, lao dịch và binh dịch, làng xã ngày càng bị phong kiến hoá. Mặt khác, do sự phát triển của yếu tố tư ­ hữu ruộng đất và tầng lớp địa chủ bình dân, quan hệ sản xuất phong kiến địa chủ - tá điền dần dần phổ biến trong xã hội. Sự phân hóa đẳng cấp trở nên sâu sắc, trên quy mô xã hội ở tầng vĩ mô, cũng như trong quy mô làng xã ở tầng vi mô.
  Nói tóm lại, thời Lê sơ, cả ở mặt mô hình thiết chế, hệ tư tưởng lẫn mặt thực thể kinh tế - xã hội, những yếu tố phong kiến đã chiếm ưu thế. Chế độ phong kiến nhà nước quan liêu Đại Việt đã được xác lập vững chắc, khoảng cách giữa danh và thực (giữa mô hình và thực thể) ở mức độ nhỏ nhất. Thế kỷ XV được coi là một thế kỷ cổ điển của chế độ phong kiến Việt Nam. Đây là một loại hình chế độ phong kiến nhà nước quan liêu, có nhiều điểm khác biệt nếu đối sánh với một chế độ phong kiến lãnh chúa ở Tây âu trung đại, hay với chế độ phong kiến võ sĩ hoặc chế độ phong kiến tăng lữ ở một số nước khác. 
 Tuy nhiên, trong thực tế, xã hội Đại Việt thời Lê sơ vẫn không phải và chưa bao giờ hoàn toàn một xã hội phong kiến Đông Á Nho giáo thuần nhất. Nó là một sự hỗn dung, lai ghép mang tính đối trọng giữa một mô hình ngoại nhập và một mô hình thực thể bản địa. Triều Lê sơ, vì thế, đã có một vị thế quan trọng và được đánh giá cao trong lịch sử dân tộc, quan sự nghiệp giữ nước và dựng nước. 
 Về mặt tiến trình xã hội, so với thời Lý - Trần, sự xác lập chế độ phong kiến nhà nước quan liêu thời Lê sơ là một buớc tiến. Tuy nhiên, ở một số mặt nào đó, nhất là về quan hệ xã hội và cân bằng văn hóa, nó đồng thời cũng bị chững lại, thậm chí có chỗ thụt lùi. Trong thế kỷ XV, những mâu thuẫn xã hội chứa chất, nhưng trong điều kiện một thể chế Nhà nước mạnh và ổn định, nên vẫn ở dạng tiềm năng. Những mâu thuẫn đó sẽ bộc phát nhanh chóng trong 3 thập kỷ đầu thế kỷ XVI, dẫn triều Lê sơ đến chỗ sụp đổ. 
 Nguồn: Nguyễn Quang Ngọc 2006, Chương IV - Việt Nam thế kỷ XV, Tiến trình Lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Giáo Dục, Tr.116 – 130.